VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Số: 529/TB-VKSTC  

 

Hà Nội, ngày 07 tháng 11 năm 2018

 

 

THÔNG BÁO

Kinh nghiệm và rút kinh nghiệm về công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật

 

Để nâng cao chất lượng, hiệu qủa công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, đặc biệt chú trọng chất lượng, hiệu quả đối với công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Thực hiện Kế hoạch số 03/KH-VKSTC ngày 26/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2018, theo đó: Định kỳ 06 tháng ban hành thông báo rút kinh nghiệm về công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định về vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 10) tổng hợp báo cáo kết quả công tác kháng nghị 6 tháng đầu năm của các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương (sau đây viết tắt là VKSND tỉnh, thành phố) thông báo kinh nghiệm rút kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác kháng nghị, cụ thể như sau:

1. Tình hình vi phạm của Tòa án

Qua báo cáo của các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các VKSND tỉnh, thành phố thấy Viện kiểm sát các cấp trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát đã phát hiện được nhiều vi phạm. Các dạng vi phạm chủ yếu là: Vi phạm về thời hạn gửi bản án, quyết định; Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; Tòa án xác định sai tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, không đưa, đưa thiếu hoặc ghi sai tên người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; việc xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ, của Tòa án chưa đầy đủ, toàn diện; Phần đánh giá và quyết định của bản án không phù hợp với tình tiết có trong hồ sơ vụ án; Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng không nêu rõ hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án, không tuyên đình chỉ đối với yêu cầu đương sự đã rút, không nêu hậu quả đình chỉ; Vi phạm về nội dung, vi phạm về việc áp dụng thiếu điều luật, vi phạm về việc tính án phí…

Việc phát hiện vi phạm tập trung chủ yếu ở các đơn vị như: Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 3; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, Đồng Nai, Tây Ninh, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Ninh...

2. Kết quả kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự và hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (từ ngày 01/12/2017 đến 31/5/2018)

2.1. Kháng nghị phúc thẩm

Tổng hợp kết quả từ các báo cáo công tác kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định vụ án hành chính, vụ việc dân sự và hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của Viện kiểm sát nhân dân các cấp:

- Tổng số kháng nghị Viện kiểm sát đã ban hành theo thủ tục phúc thẩm: 914 kháng nghị (DS: 747; HC: 67; KT: 91; LĐ: 0; PS: 02; PL09: 07), trong đó:

+ Số kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đã ban hành theo thủ tục phúc thẩm: 510 kháng nghị, chiếm 55,80% (DS: 420; HC: 40; KT: 44; LĐ: 0; PS: 02; PL09: 04).

 + Số kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đã ban hành theo thủ tục phúc thẩm: 404 kháng nghị, chiếm 44,20% (DS: 327; HC: 27; KT: 47; LĐ: 0; PS: 0; PL09: 03).

- Tổng số kháng nghị của Viện kiểm sát theo thủ tục phúc thẩm được chấp nhận: 537/686 kháng nghị đã được xét xử (đạt tỷ lệ 78,28%); Số kháng nghị đã được xét xử này bao gồm cả kháng nghị cũ, trong đó:

+ Số kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp theo thủ tục phúc thẩm được chấp nhận: 291/359 kháng nghị đã được xét xử (đạt tỷ lệ 81,06%).

+ Số kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo thủ tục phúc thẩm được chấp nhận: 246/327 kháng nghị đã được xét xử (đạt tỷ lệ 75,23%).

- Số kháng nghị của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận sửa án là 364/1.259 bản án, quyết định của Tòa án bị Hội đồng xét xử sửa án (chiếm tỷ lệ 28,91%).

- Số kháng nghị của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận hủy án 172/541 bản án, quyết định của Tòa án bị Hội đồng xét xử hủy án (chiếm tỷ lệ 31,79%).

2.2. Kháng nghị giám đốc thẩm

- Tổng số kháng nghị Viện kiểm sát đã ban hành theo thủ tục giám đốc thẩm: 192 kháng nghị (3 Viện cấp cao: 187; Vụ 9: 04; Vụ 10: 01).

- Số kháng nghị Viện kiểm sát rút: 06 kháng nghị, chiếm 3,13%.

+ Do đương sự rút đơn đề nghị kháng nghị và việc giải quyết vụ án không có vi phạm khác gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba: 03 kháng nghị (VC1: 01; VC3: 02).

+ Do đã thi hành án xong: 02 kháng nghị (VC2).

+ Do kháng nghị của Viện kiểm sát không có căn cứ pháp luật: 01 kháng nghị (VC3).

- Số kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận: 119 kháng nghị/ 134 tổng số kháng nghị đã xét xử (đạt tỷ lệ 88,81%).

2.3. Kháng nghị tái thẩm

- Tổng số kháng nghị Viện kiểm sát đã ban hành theo thủ tục tái thẩm: 08 kháng nghị (Viện cấp cao)

- Số kháng nghị Viện kiểm sát rút: 0

- Số kháng nghị tái thẩm của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận: 05 kháng nghị/ 07 tổng số kháng nghị đã xét xử (đạt tỷ lệ 71,50%).

3. Đánh giá chung về thực hiện quyền kháng nghị

3.1. Những ưu điểm

- Viện kiểm sát các cấp đã quán triệt Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm án dân sự, hành chính; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 22/3/2018 về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự và hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, phá sản và những việc khác theo quy định của pháp luật; Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 về  công tác năm 2018 của ngành Kiểm sát nhân dân. Lãnh đạo các đơn vị, Viện kiểm sát địa phương đã quan tâm, chỉ đạo xác định được các nội dung trọng tâm của công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật. Nhiều đơn vị xác định khâu đột phá là “tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm”, coi đây là chỉ tiêu thi đua để đánh giá công chức hàng năm nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên. Chất lượng kháng nghị phúc thẩm của một số Viện kiểm sát đã được nâng lên rõ rệt, tổng số kháng nghị của hai cấp trong 6 tháng đầu năm 2018 trong lĩnh vực này tăng so với cùng kỳ năm 2017 (DS: năm 2017 là 480 kháng nghị; năm 2018 là 747 kháng nghị).

- VKSND tỉnh, thành phố thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, qua công tác kiểm sát, kịp thời thông báo rút kinh nghiệm và hướng dẫn nghiệp vụ cho Viện kiểm sát cấp quận, huyện. Viện kiểm sát các cấp đã tích cực, chủ động phối hợp với Tòa án để tổ chức nhiều phiên tòa rút kinh nghiệm.

- Một số Viện kiểm sát đã thực hiện tốt công tác phối hợp với Tòa án, phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện tốt công tác kháng nghị.

- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên sao gửi bản án, quyết định, báo cáo đề nghị kháng nghị… tích cực học tập lý luận chính trị, tích lũy kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện tốt công tác nghiên cứu hồ sơ; tham gia đầy đủ các phiên tòa, phiên họp theo quy định; kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định của Tòa án hai cấp phát hiện được nhiều vi phạm của Tòa án, kịp thời ban hành kháng nghị.

3.2. Những tồn tại, hạn chế

- Lãnh đạo một số Viện kiểm sát vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng, chưa quan tâm đúng mức đến khâu công tác này nên việc chỉ đạo còn thiếu sát sao.

- Đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công thực hiện nhiệm vụ công tác này còn thiếu, đa số chưa có kinh nghiệm và phải kiêm nhiệm nhiều công tác. Vẫn còn có Viện kiểm sát chưa bố trí đủ Kiểm sát viên để tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của pháp luật. Một số Kiểm sát viên yếu về năng lực, trình độ nghiệp vụ dẫn đến việc nghiên cứu các vụ án chưa sâu, khi tham gia phiên tòa và kiểm sát bản án, quyết định thiếu chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện vi phạm của Tòa án để kiến nghị, ban hành kháng nghị hoặc báo cáo Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền kháng nghị. Do đó, còn tình trạng án hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của cấp sơ thẩm và có trách nhiệm của Viện kiểm sát; số lượng kháng nghị so với số bản án, quyết định mà Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy, sửa án chiếm tỷ lệ thấp.

- Việc Tòa án vi phạm thời hạn gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cùng cấp khá phổ biến ở các địa phương, đồng thời một số Viện kiểm sát cấp dưới gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp trên còn chậm nên ảnh hưởng đến việc phát hiện vi phạm và thực hiện quyền kháng nghị.

- Hiện nay, việc bố trí vị trí chỗ ngồi của Kiểm sát viên tại Tòa không đảm bảo an toàn cho Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa giải quyết các vụ án hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động.

3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Về tổ chức, bộ máy trong toàn ngành của khâu công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật hiện vẫn còn phòng ghép ở một số Viện kiểm sát địa phương (phòng 9 và phòng 10) nên thiếu tính chuyên sâu.

- Việc bố trí Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cho khâu công tác này chưa đảm bảo về số lượng (do thường xuyên bị luân chuyển, không ổn định) và chất lượng (vì phần lớn là Kiểm sát viên mới được bổ nhiệm, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng kiểm sát). Một số Kiểm sát viên, Kiểm tra viên chưa tích cực học tập, đầu tư thời gian nghiên cứu để tích lũy kinh nghiệm.

- Các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động… ngày càng tăng với tính chất phức tạp. Trong khi đó hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác này rất nhiều, thường xuyên thay đổi. Một số quy định chồng chéo, mẫu thuẫn, chậm sửa đổi, bổ sung dẫn tới nhận thức và vận dụng không thống nhất.

- Các quy định của pháp luật tố tụng hành chính và tố tụng dân sự chưa cụ thể hóa chế tài bảo đảm để Viện kiểm sát thực hiện các quyền như: Viện kiểm sát không được tiếp cận tài liệu, hồ sơ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Việc kháng nghị của Viện kiểm sát chủ yếu dựa vào công tác kiểm sát bản án, quyết định, trong khi đó do Tòa án vi phạm thời hạn gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát dẫn đến khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm; Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là quá ngắn, nhất là đối với những vụ án theo quy định Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, Viện kiểm sát không đủ thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ; Việc kiểm sát biên bản tại phiên tòa là cần thiết nhưng việc thực hiện còn mang tính hình thức và khó khăn, một số vụ án Kiểm sát viên phát hiện vi phạm khi tham gia phiên tòa, sau đó Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị, tuy nhiên biên bản phiên tòa lại không thể hiện nội dung vi phạm đó; Nhiều trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có dấu hiệu vi phạm, yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án nhưng Tòa án không thực hiện hay thực hiện chậm trễ; Hoặc đối với Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân mặc dù phát hiện vi phạm dẫn đến hủy quyết định nhưng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh không có thẩm quyền kháng nghị. Do đó, Viện kiểm sát không thể thực hiện quyền kháng nghị, không bảo vệ được kháng nghị.

3.4. Những nội dung cần rút kinh nghiệm

3.4.1. Đối với công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành

- Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần quan tâm, chỉ đạo sát sao, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với khâu công tác này. Hàng năm, Viện kiểm sát các cấp phải xác định được các nội dung trọng tâm, đề ra các giải pháp cụ thể, đồng thời mỗi cấp kiểm sát cần chọn điểm còn yếu, chưa tốt làm khâu đột phá để thực hiện có hiệu qủa công tác kiểm sát nhằm nâng cao chất lượng công tác.

- Phân công Lãnh đạo Viện phụ trách và công chức phòng nghiệp vụ theo dõi cấp quận, huyện gắn trách nhiệm với chất lượng, hiệu quả công tác của đơn vị được phân công phụ trách theo dõi…

- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề, các buổi thảo luận về các vụ án tại đơn vị hoặc phối hợp với các Viện kiểm sát cùng cấp trong khu vực với mục đích tự đào tạo nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới thông qua việc trao đổi nghiệp vụ, thỉnh thị xin ý kiến, báo cáo thông tin vi phạm của bản án, quyết định của Tòa án để kịp thời thực hiện các quyền kiểm sát.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác. Phối hợp với Tòa án để tổ chức thường xuyên, nghiêm túc có hiệu quả các phiên tòa rút kinh nghiệm.

3.4.2. Đối với công tác tổ chức bộ máy và sử dụng nguồn nhân lực

- Đối với các Viện kiểm sát cấp cao, Viện kiểm sát địa phương cần có phòng nghiệp vụ chuyên sâu.

- Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần bố trí đủ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và ổn định lực lượng công chức cho khâu công tác này, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, đặc biệt chú trọng đến năng lực sở trường công tác của công chức, đảm bảo các độ tuổi có tính kế thừa.

3.4.3. Đối với công tác chuyên môn, nghiệp vụ

- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, ý thức trách nhiệm công vụ, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả khi thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật. Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công thụ lý, giải quyết án.

- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần tích cực cập nhật các văn bản pháp luật mới, hướng dẫn của ngành, của Tòa án và các ngành khác có liên quan đến các lĩnh vực công tác, chủ động nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ nghiệp vụ trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật.

- Đối với những vụ, việc cụ thể Kiểm sát viên, Kiểm tra viên khi tham gia nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử phải xây dựng hồ sơ kiểm sát đúng theo quy định, hướng dẫn của ngành; Chủ động nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; Kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa, phiên họp; Tích cực kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án kịp thời phát hiện vi phạm để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị hoặc báo cáo Viện kiểm sát có thẩm quyền để kháng nghị, không để xảy ra trường hợp án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Kiểm sát viên.

- Xây dựng Quyết định kháng nghị phải theo đúng mẫu quy định; Nội dung kháng nghị phải nêu rõ vi phạm pháp luật cụ thể của Tòa án trong bản án, quyết định; nêu rõ vi phạm về tố tụng hay luật nội dung; lập luận phải vững chắc, đầy đủ và đúng căn cứ pháp luật…

- Kịp thời ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với những vụ án có bản án, quyết định bị hủy, sửa về những vi phạm tố tụng; vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, tài liệu; vi phạm về việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong các vụ án; đánh giá chất lượng kháng nghị để kịp thời khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát.

4. Những phương pháp, kinh nghiệm

4.1. Phương pháp, kinh nghiệm phát hiện vi phạm

- Để phát hiện vi phạm của Tòa án cần xem xét kỹ hồ sơ do Tòa án lập, chuyển cho Viện kiểm sát, trong đó chú trọng đến các quyết định tố tụng, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ, việc. Cụ thể:

+ Kiểm sát thành phần tham gia tố tụng mà Tòa án đã triệu tập đặc biệt là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc vắng mặt hoặc triệu tập thiếu người tham gia tố tụng dẫn đến việc giải quyết vụ án khách quan, chính xác.

+ Tại phiên tòa, phiên họp cần kiểm sát việc Tòa án có xem xét các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp tại Tòa; Đương sự có được trình bày theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hay không; Kiểm sát viên cần hỏi làm rõ các tình tiết vụ án mà Tòa án chưa làm rõ và cũng là cơ sở cho việc báo cáo Lãnh đạo Viện kháng nghị theo quy định của pháp luật.

+ Phát hiện vi phạm thông qua việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án: Đối với các quyết định giải quyết vụ, việc (quyết đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự…) chủ yếu vi phạm trong việc áp dụng các căn cứ, điều kiện để đình chỉ, tạm đình chỉ, nội dung quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, công nhận kết quả đối thoại thành hoặc thỏa thuận không đúng với nội dung thỏa thuận trong biên bản đối thoại hoặc hòa giải thành, vi phạm trong giải quyết về tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí; Đối với các bản án việc phát hiện vi phạm sẽ khó hơn, đòi hỏi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải nắm chắc các quy định của pháp luật về tố tụng, về nội dung, phải có kinh nghiệm để đánh giá chứng cứ và việc áp dụng pháp luật của Tòa án, phát hiện những bất hợp lý trong việc giải quyết của Tòa án để kháng nghị.

Một số dạng vi phạm của Tòa án, nếu chỉ đọc bản án, quyết định thì không thể phát hiện hết được mà cần nghiên cứu hồ sơ như: thiếu người tham gia tố tụng (những vấn đề đương sự nêu ra trong hồ sơ vụ án); Nội dung quyết định mâu thuẫn với nội dung biên bản đối thoại hoặc hòa giải thành (cần yêu cầu Tòa án gửi biên bản cho Viện kiểm sát); Trình tự, thủ tục định giá tài sản tranh chấp, thủ tục tống đạt, niêm yết; Các tài liệu, chứng cứ đương sự nộp; Nội dung biên bản nghị án và quyết định của bản án tuyên khác nhau … Đối với các trường hợp này cần phải đọc kỹ bản án, quyết định và đối chiếu với các căn cứ pháp luật Tòa án đã áp dụng giải quyết, nếu thấy việc nhận định, đánh giá của Tòa án chưa đúng thì yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để nghiên cứu xác định rõ vi phạm để kháng nghị trong trường hợp có căn cứ.

Khi xem xét bản án, quyết định cần nắm rõ những nội dung mà đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã nộp án phí phản tố, tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập chưa, từ đó đối chiếu với nội dung phần quyết định của bản án để xác định Tòa án có giải quyết đúng nội dung yêu cầu của đương sự không?; Phần nhận định và phần quyết định có phù hợp và đúng pháp luật; Các văn bản quy phạm pháp luật, điều luật mà Tòa án áp dụng để giải quyết có đúng và còn hiệu lực để áp dụng. Đối với các vụ án mà Viện kiểm sát tham gia phiên tòa cần so sánh phần tuyên án tại Tòa với quyết định trong bản án.

Trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định, nếu Kiểm sát viên cấp sơ thẩm phát hiện vi phạm nhưng thời hạn kháng nghị phúc thẩm đã hết thì phải chuyển ngay hồ sơ kiểm sát cùng phiếu kiểm sát ghi nội dung vi phạm đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để nghiên cứu và thực hiện kháng nghị theo thẩm quyền.

- Qua thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động; kiểm sát bản án, quyết định, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã đưa ra một số lưu ý để phát hiện vi phạm và thực hiện quyền kháng nghị trong kiểm sát giải quyết đối với từng loại án, từng loại tranh chấp. Cụ thể:

+ Về án hành chính

Xác định đúng người bị khởi kiện, quyết định bị khởi kiện và yêu cầu của người khởi kiện là cơ bản nhất. Bởi lẽ nó liên quan trực tiếp đến văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án (bao gồm: về thẩm quyền, về trình tự thủ tục khi thực hiện, không thực hiện hành vi hành chính hay ban hành quyết định hành chính...).

+ Về án dân sự, hôn nhân và gia đình

Đối với loại án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, góp hụi. Vấn đề cơ bản nhất là xác định thời điểm xác lập giao dịch dân sự để xác định luật được áp dụng, xác định căn cứ áp dụng mức lãi suất cho phù hợp với quy định của pháp luật trong trường hợp đương sự có yêu cầu tính tiền lãi.

Đối với loại án tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng: Cần lưu ý là việc tính án phí có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và nghĩa vụ dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ dân sự nhưng Tòa án vẫn buộc vợ chồng chịu án phí sơ thẩm là không đúng quy định hoặc trường hợp người liên quan có yêu cầu độc lập nhưng Tòa án buộc vợ chồng phải chịu án phí là không đúng...

         Đối với loại án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất: trong thực tế Tòa án cấp sơ thẩm thường mắc phải những vi phạm như: giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự; giải quyết không triệt để nội dung vụ án; xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp; xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự; bỏ sót người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ không đầy đủ; đánh giá tài liệu, chứng cứ không toàn diện, thiếu khách quan; vi phạm trong việc tính án phí có giá ngạch hay không có giá ngạch,…

         Đối với loại án yêu cầu đòi bồi thường về sức khỏe. Cần chú ý áp dụng các quy định tại quy định Pháp lệnh số 10, Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án, người yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí.

+ Về án kinh doanh thương mại

Các tranh chấp thường liên quan đến hợp đồng: trước hết cần xem xét hợp đồng có vô hiệu hay không? Quá trình thực hiện hợp đồng, kết quả thực hiện hợp đồng của các chủ thể tham gia hợp đồng, xử lý trách nhiệm vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng đầu tư, Tòa án thường vi phạm quyền lợi của thế chấp và bảo lãnh hợp đồng bằng tài sản là quyền sử dụng đất (trên đất có tài sản khác nhưng không có thỏa thuận; hợp đồng chưa thông qua cơ quan có thẩm quyền; không có ý kiến của các thành viên trong hộ gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc ý kiến của chồng/vợ...) ; chấp nhận cả yêu cầu tính lãi qúa hạn và lãi phạt.

Đối với các vụ án liên quan đến tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau, tranh chấp giữa các thành viên công ty với người quản lý công ty cần lưu ý xem xét về góp vốn, xác định tư cách thành viên công ty...

+ Về án lao động

Cần lưu ý về các trình tự thủ tục liên quan đến xử lý kỷ luật lao động.  Xác định các tranh chấp bắt buộc phải thông qua hòa giải viên lao động và các tranh chấp không phải qua thủ tục hòa giải, đồng thời, chú ý áp dụng nội quy, thỏa ước lao động tập thể; Xác định đối với các trường hợp sau khi hết hạn hợp đồng có thời hạn nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không ký hợp đồng lao động mới, hoặc xác định vi phạm thời hạn báo trước đối với trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần lưu ý vi phạm khi xác định tiền lương làm cơ sở tính tiền bồi thường (tiền lương bao gồm các khoản phụ cấp khác ngoài tiền lương ghi trong hợp đồng lao động)...

4.2. Phương pháp, kinh nghiệm tích lũy, lưu giữ tài liệu vi phạm

- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần tập hợp, vào sổ theo dõi vi phạm đối với từng vụ án, ghi rõ nội dung vi phạm, căn cứ xác định vi phạm để theo dõi tổng hợp vi phạm, báo cáo lãnh đạo Viện kiến nghị hoặc kháng nghị.

- Khi tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm gửi đến cần đóng dấu công văn đến và lưu giữ bản án, quyết định làm căn cứ xác định vi thời hạn gửi bản án, quyết định dẫn đến hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nên không thực hiện được quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.

- Qua kiểm sát nếu phát hiện bản án, quyết định có vi phạm thì sau khi xem xét ban hành kháng nghị và tập hợp vi phạm để ban hành kiến nghị vi phạm đối với Tòa án và Thông báo rút kinh nghiệm để rút kinh nghiệm chung trong nội bộ.

4.3. Phương pháp, kinh nghiệm thu thập tài liệu, chứng cứ để thực hiện quyền kháng nghị

 Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên tòa và qua kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án mà phát hiện có vi phạm, ngoài việc yêu cầu Tòa án xác minh thu thập chứng cứ hoặc Viện kiểm sát tự mình xác minh, thu thập chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện quyền kháng nghị bằng việc yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng cứ. Trường hợp cần thiết có thể mời đương sự lên làm việc trực tiếp tại trụ sở Viện kiểm sát để thu thập tài liệu, chứng cứ.

 Việc thu thập chứng cứ để thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính và Bộ luật tố tụng dân sự từ đó phát hiện các vi phạm, đề xuất lãnh đạo Viện kháng nghị.

4.4. Phương pháp, kinh nghiệm xây dựng Quyết định kháng nghị

 Khi xây dựng Quyết định kháng nghị, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải tuân thủ theo đúng mẫu kháng nghị của ngành và đảm bảo được những yêu cầu về nội dung, căn cứ kháng nghị.

Để đảm bảo chất lượng kháng nghị Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải nghiên cứu và nắm vững nội dung vụ án, các quy định của pháp luật. Có thể kháng nghị đối với cả vi phạm về tố tụng và vi phạm về nội dung. Quyết định kháng nghị phải nêu được cụ thể những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật và đường lối giải quyết vụ án.

Nếu có tài liệu, chứng cứ do Viện kiểm sát thu thập thì cần chứng minh, phân tích, đánh giá các chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

4.5. Kinh nghiệm đưa ra tài liệu chứng cứ, lập luận để bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa

Cần phải sắp xếp, công bố các chứng cứ, lập luận đối với các chứng cứ đó làm căn cứ cho kháng nghị của Viện kiểm sát, chỉ ra cái sai, cái thiếu trong bản án của Tòa án, trên cơ sở đó phân tích các chứng cứ mà Tòa án chưa xem xét hoặc Viện kiểm sát thu thập được.

Tại phiên tòa, khi Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị cần phải nêu rõ căn cứ của việc kháng nghị và các tài liệu, chứng cứ là căn cứ xác định vi phạm để bảo vệ kháng nghị. Trong trường hợp cần thiết Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử cho nghe băng, đĩa ghi âm, ghi hình tại phiên tòa, phiên họp theo quy định …

4.6. Những kinh nghiệm khác

- Do tính chất đa dạng, phức tạp khi giải quyết vụ án hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động thường liên quan đến nhiều văn bản pháp luật nên định kỳ Viện kiể sát cấp trên tập hợp, sao gửi các Quyết định kháng nghị, Thông báo rút kinh nghiệm, án lệ… để thuận tiện cho việc tra cứu, vận dụng.

- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần có Sổ tay theo dõi, phát hiện, tập hợp vi phạm, ghi rõ nội dung vi phạm, căn cứ xác định vi phạm để chủ động nghiên cứu, tích lũy kiến thức và tham khảo khi cần.

- Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm cần thực hiện tốt công tác phối hợp, cần tranh thủ, xin ý kiến chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án của Viện kiểm sát cấp trên nhất là đối với những vụ án phức tạp, có nhiều quan điểm trái ngược nhau, đồng thời phối hợp với Tòa án cùng cấp trong việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên, kỹ năng phát hiện vi phạm trong từng loại tranh chấp để kịp thời kháng nghị, kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.

5. Một số giải pháp, kiến nghị

- Đối với Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt thực hiện Chỉ thị 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát năm 2018 xác định “công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm”; Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm các vụ việc dân sự; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 22/3/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc tăng cường biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.

- Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra Viện kiểm sát các cấp bảo đảm việc tổ chức bộ máy và sử dụng nguồn nhân lực theo hướng chuyên sâu; bố trí Kiểm sát viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có tính ổn định nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, Kiểm sát viên của khâu công tác này; Tập hợp những vi phạm của Tòa án để kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nhất là đối với vi phạm về việc gửi bản án, quyết định của Tòa án các cấp để Viện kiểm sát thực hiện tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định kịp thời phát hiện vi phạm và có đủ thời gian thực hiện công tác kháng nghị;

 Chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp trang bị và sử dụng máy ghi âm, ghi hình tại các phiên tòa, phiên họp nhằm phát hiện vi phạm của Tòa án tại phiên tòa, phiên họp để Viện kiểm sát các cấp thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị.

- Đề nghị Viện trưởng VKSNDTC phối hợp với Chánh án TANDTC tổ chức sơ kết, sửa đổi Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/8/2016 về việc phối hợp thi hành một số quy định của Luật tố tụng dân sự và Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/8/2016 về việc phối hợp thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính liên quan đến việc chuyển hồ sơ cho VKSND khi có yêu cầu.

Kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, sửa đổi Thông tư quy định về vị trí chỗ ngồi tại Tòa đảm bảo an toàn cho Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa.

Trên đây là Thông báo rút kinh nghiệm về công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo đến các địa phương, đơn vị để liên hệ tự rút kinh nghiệm cho công tác này trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn./.

 

Nơi nhận:

- Đ/c Viện trưởng VKSNDTC (để báo cáo);

- Đ/c Trần Công Phàn - PVT VKSNDTC (để báo cáo);

- Vụ 9 VKSNDTC (để phối hợp)

- Các VKSND cấp cao;

- VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;

- Văn phòng VKSNDTC (P. Tổng hợp);

- Lãnh đạo, công chức Vụ 10;

- Lưu: Vụ 10.

TL. VIỆN TRƯỞNG

VỤ TRƯỞNG VỤ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ VIỆC KINH DOANH THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG VIỆC KHÁC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

 

 

(Đã ký)

 

 

 

Phương Hữu Oanh

 

 

 

 

 

Số lần truy nhập 33371179
Số người đang xem: 652