ĐỒNG CHÍ HOÀNG QUỐC VIỆT VỚI NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Bài do đồng chí Lại Hợp Việt, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Kiểm sát, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế biên soạn theo chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho Chương V cuốn sách “Hoàng Quốc Việt, chiến sỹ cộng sản kiên cường và mẫu mực” do Tỉnh ủy Bắc Ninh xuất bản năm 2005).

Ngày 15/7/1960, Quốc hội Khoá II nước Việt Nam dân chủ công hoà (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 26/7/ 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20-LCT công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Kể từ thời điểm này, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ra đời trên cơ sở những quy định của Hiến pháp năm 1959 (các Điều từ 105 đến 108) chính thức đi vào cuộc sống, đánh dấu bước ngoặt lớn về sự ra đời của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và trở thành một cơ quan quan trọng trong bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá II họp tại Hà Nội từ ngày 06 đến ngày 15/7/1960; Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và bầu đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Được Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử và được Quốc hội bầu làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trên cương vị công tác của mình, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xây dựng hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ngày càng phát triển từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến Viện kiểm sát nhân dân các địa phương và Viện kiểm sát quân sự các cấp, góp phần tạo lập vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát trong thể chế Nhà nước dân chủ cộng hòa. Ngày 02/8/1960, tại Hội nghị kiểm điểm công tác 6 tháng đầu năm và học tập Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; đồng chí Trường Chinh, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nói: “Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy… Trong bộ máy Nhà nước có nhiều bộ phận chức năng khác nhau như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Công an, Viện kiểm sát nhân dân. Các tổ chức ấy cốt là để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhân dân, đảm bảo trật tự an ninh trong xã hội, phát huy ý thức làm chủ nhà nước, khả năng tham gia quản lý nhà nước của nhân dân... Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân có mục đích đảm bảo pháp chế dân chủ nhân dân được tôn trọng, luật pháp được tôn trọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân được tôn trọng. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và mọi người công dân là rất quan trọng… Đây là sự phân công để thay mặt nhân dân phục vụ nhân dân. Công việc ấy phải dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kiểm sát là làm thế nào để đảm bảo trấn áp phản cách mạng, không để chúng lọt lưới hoành hành, đảm bảo giữ gìn trật tự an ninh, tài sản và quyền lợi chính đáng của nhân dân”.
Từ ngày 05 đến ngày 10/9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội lần thứ III của Đảng là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định đường lối cách mạng ở nước ta trong những năm 60 và đã đề ra những chủ trương có tính định hướng quan trọng cho công tác kiểm sát giai đoạn 1960 - 1965. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 43 ủy viên chính thức và 28 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu 11 ủy viên chính thức và 02 ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, bầu Ban Bí thư Trung ương gồm 7 đồng chí. Bác Hồ được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được tiếp tục bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá III.
Trong thời gian làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có công lao rất lớn trong việc xây dựng và trực tiếp lãnh đạo ngành Kiểm sát nhân dân về mọi mặt. Đó là việc xây dựng hệ thống viện kiểm sát nhân dân từ Trung ương đến các địa phương để thực hiện chức năng kiểm sát việc chấp hành pháp luật và thực hành quyền công tố làm cho pháp luật được chấp àhnh nghiêm chỉnh và thống nhất. Với cương vị là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt luôn chú trọng việc nêu cao tính Đảng trong công tác kiểm sát; chú trọng công tác xây dựng Đảng trong ngành Kiểm sát nhân dân và luôn gắn hoạt động kiểm sát vào việc phục vụ thiết thực nhiệm vụ chính trị của Đảng. Là người có nhiều kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo quần chúng của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt luôn quan tâm đến công tác quần chúng, nêu cao tính dân chủ trong hoạt động kiểm sát, quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động; luôn luôn chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức phẩm chất, giáo dục và chăm lo cho đội ngũ cán bộ của Ngành. ở đồng chí Hoàng Quốc Việt, nổi bật lên phẩm chất cao quý là lòng trung thực và tinh thần đấu tranh bảo vệ công lý, giữ gìn kỷ cương phép nước.
Hoạt động của đồng chí Hoàng Quốc Việt với cương vị là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đầu tiên và là Viện trưởng lâu năm nhất của ngành Kiểm sát nhân dân được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể sau:
Từ năm 1960 đến năm 1964
Thực hiện Hiến pháp năm 1959, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960); từ năm 1960 đến năm 1975 cả nước ta tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà. ở miền Bắc, từ năm 1960 đến năm 1964 nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội; về công nghiệp Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo tiến hành xây dựng nhiều khu công nghiệp lớn; về nông nghiệp là chuyển từ Tổ đổi công sang Hợp tác xã nông nghiệp.
Đây là giai đoạn mở đầu rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân. Từ khi nhận nhiệm vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến khi chuyển sang công tác khác, đồng chí Hoàng Quốc Việt rất chú trọng việc xây dựng và tổ chức hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Hiến pháp quy định; phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của Đảng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt rất chú trọng công tác xây dựng Đảng trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bằng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị trong ngành và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo công tác với các cấp uỷ Đảng. Hàng quý, hàng năm; thay mặt Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đều có báo cáo với Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả công tác của ngành Kiểm sát nhân dân; đồng thời chỉ đạo cho Viện trưởng Viện kiểm sát các địa phương thực hiện chế độ báo cáo như trên với cấp uỷ Đảng ở địa phương.
Với tính Đảng và tinh thần trách nhiệm cao và với uy tín của mình; đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xây dựng được niềm tin của Đảng, Nhà nước đối với Viện kiểm sát nhân dân. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã trực tiếp nghe và cho ý kiến chỉ đạo về công tác kiểm sát.
Năm 1960, khi nghe Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình bầy về dự thảo Luật tổ chức đầu tiên của ngành Kiểm sát nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát đi kiểm sát việc chấp hành pháp luật của người khác; ngành Kiểm sát hơn ai hết phải là những người gương mẫu chấp hành pháp luật; Cũng vì vậy cán bộ Kiểm sát phải: "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn".
Ngày 17/11/1960, thay mặt Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đồng chí Hoàng Quốc Việt đã báo cáo với Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả công tác kể từ khi ngành Kiểm sát nhân dân được thành lập. Trên cơ sở đề nghị của đồng chí Hoàng Quốc Việt, ngày 24/11/1960 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có cuộc họp bàn về công tác kiểm sát và ngày 12/12/1960 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Thông tri số 13-TT/TW về việc tăng cường lãnh đạo công tác kiểm sát. Thông tri số 13-TT/TW nêu rõ: “Các cấp uỷ, các Ban, Đảng đoàn, thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp… cần nghiên cứu, hiểu rõ tầm quan trọng, tác dụng, nội dung của công tác kiểm sát, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp và trách nhiệm của mình đối với cơ quan kiểm sát, đề ra những biện pháp thiết thực giúp kiện toàn tổ chức và tăng cường hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Cần dùng những biện pháp thích hợp… để làm cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, tác dụng và nội dung công tác kiểm sát, ủng hộ cơ quan kiểm sát. Trong khi tuyên truyền, cần vạch rõ những ưu điểm, thiếu sót trong việc chấp hành pháp luật để cho ai nấy càng thấy rõ: làm tốt công tác kiểm sát không những có lợi cho sự nghiệp cách mạng chung mà còn bảo đảm quyền lợi chính đáng của mỗi người…Cần lãnh đạo ngành kiểm sát tiến hành kiểm tra liên tục và có trọng điểm, kịp thời phát hiện và ngăn ngừa những hành động làm sai pháp luật, chống mọi hành động phá hoại, chống tham ô, lãng phí, chống mọi sự xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của nhân dân... cần phân công cấp uỷ viên chuyên trách…, cần có kế hoạch đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát, giúp đỡ cán bộ ngành kiểm sát đi sâu vào nghiệp vụ….Các cấp uỷ cần định kỳ nghe báo cáo để chỉ đạo công tác kiểm sát, đồng thời cần làm cho các ngành Công an, Kiểm sát, Toà án có ý thức đúng trong việc phối hợp công tác và chế ước lẫn nhau.”
Năm 1962, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 716 đã định hướng quan trọng cho công tác kiểm sát. Chỉ thị nêu rõ: “Tăng cường công tác kiểm sát dấu tranh chống bọn phản cách mạng, đấu tranh làm giảm những loại phạm pháp có nhiều điều kiện hạn chế, tích cực tham gia cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, đồng thời tiếp tục xây dựng ngành về mọi mặt, nâng cao chất lượng các khâu công tác kiểm sát, xây dựng từng bước ngạch kiểm sát viên, tăng cường bồi dưỡng đào tạo cán bộ, đẩy mạnh thi đua, tiếp tục xây dựng chức năng công tác, cải tiến việc chỉ đạo thực hiện, cải tiến lề lối làm việc để giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tốt công tác trọng tâm của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện tốt kế hoạch Nhà nước năm 1962”.
Trong các năm từ 1960 đến 1964, nhiều chỉ thị, thông tri và kế hoạch công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã được đồng chí Hoàng Quốc Việt chỉ đạo xây dựng và ban hành để phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng nêu ra tại các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương như: Chỉ thị số 07/CT-TW ngày 17/12/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đợt tuyên truyền vận động thực hiện Luật hôn nhân và gia đình; Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/06/1961 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác đấu tranh chống phản cách mạng, giữ gìn trật tự, an ninh; Nghị quyết của Bộ Chính trị về tăng cường đấu tranh chống bọn phản cách mạng; Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 26/4/1962 của Bộ Chính trị về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu và phục vụ cuộc vận động “nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát động ngày 20/7/1963...
Trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1964, mặc dù có rất nhiều khó khăn trong tổ chức và hoạt động của Ngành khi mà nhận thức của các ngành các cấp về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân chưa được thống nhất; với cương vị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có nhiều chủ trương lớn về công tác của Ngành. Những chủ trương công tác trong chỉ đạo ngành Kiểm sát của đồng chí Hoàng Quốc Việt trong những năm 1960 rất đúng đắn, cho đến nay giữa bối cảnh của thời kỳ đổi mới vẫn có ý nghĩa thời sự. Các Chỉ thị của đồng chí Hoàng Quốc Việt cho toàn ngành Kiểm sát đã xác định những phương hướng hoạt động rất cơ bản cho ngành Kiểm sát trên cơ sở quán triệt và phục vụ kịp thời các Nghị quyết của Trung ương. Sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Việt thể hiện tính kỷ luật của một Đảng viên gương mẫu, thể hiện một lập trường Đảng tính kiên định, vững vàng; nhờ đó đồng chí đã xây dựng được quan điểm về chỉ đạo nghiệp vụ rất mẫu mực cho những thế hệ làm công tác kiểm sát hiện nay vận dụng.
Trong công tác xây dựng pháp luật và tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng chí Hoàng Quốc Việt luôn luôn đặt trong nền tảng chung của sự nghiệp củng cố nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Có lần đồng chí đã nói: "Công tác kiểm sát không phải muốn làm như thế nào cũng được, bởi vì nó đụng chạm đến sinh mệnh của con người". Công tác kiểm sát trước hết phải bảo vệ dân chủ, quan tâm đến lợi ích của người lao động và quán triệt lời dạy của Bác Hồ: "Muốn biết ai tốt, ai xấu, ai thiện, ai ác, điều cơ bản phải xem thái độ của họ đối với nhân dân lao động". Bởi vậy, một trong những trọng tâm công tác của ngành Kiểm sát nhân dân, quán xuyến toàn bộ hoạt động của các khâu công tác kiểm sát và các cấp kiểm sát từ nhiều năm nay là bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân: Từ việc đấu tranh với tình trạng vi phạm dân chủ ở nông thôn, trong vận động cải tiến hợp tác xã nông nghiệp, chỉ đạo hoạt động kiểm sát để bảo vệ việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, bảo vệ quyền dân chủ của công dân trong công tác bắt, giam, giữ... Những chủ trương công tác đó đã góp phần bảo vệ quyền dân chủ của người dân, bảo đảm cho ngành Kiểm sát có những đóng góp tích cực vào việc củng cố nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trong thời gian gần 5 năm (từ 15/9/1960 đến 05/11/1964), đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có 49 văiệt nam bản quan trong gửi đến Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các Bộ, Ngành và các địa phương cùng nhiều văn bản chỉ đạo các đơn vị trong ngành trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật; đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm; tập trung vào một số công tác chủ yếu và trọng tâm của Ngành trong giai đoạn này như:
- Công tác đấu tranh chống phản cách mạng, giữ gìn trật tự, an ninh nói chung và ở vùng đồng bào Thiên chúa giáo nói riêng; công tác đấu tranh chống phản tuyên truyền.
- Công tác phối hợp điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hoạt động phỉ; giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội.
- Đấu tranh chống tham ô, lãng phí và thiếu tinh thần trách nhiệm gây ra tham ô, lãng phí.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và đấu tranh với vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực quản lý các Nông trường, các Hợp tác xã nông nghiệp và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp; đảm bảo lương thực; công tác quản lý thị trường, thu mua thực phẩm, thu mua mía đường; công tác quản lý thị trường, quản lý rượu; quản lý công trình thuỷ lợi, phòng chống bão lụt; công tác phòng cháy, chữa cháy.v.v.
- Công tác xây dựng pháp luật và tuyên truyền thực hiện pháp luật như: Thi hành Luật hôn nhân và gia đình; thực hiện các quy ước nông thôn; xây dựng luật cho Giao thông vận tải...
- Một số lĩnh vực công tác quan trọng khác cũng được đồng chí Hoàng Quốc Việt quan tâm chỉ đạo các Viện kiểm sát địa phương thực hiện nhằm ngăn ngừa các vi phạm và tội phạm như: Ngăn chặn việc giết hại bệnh nhân hủi; ngăn chặn vfa xử lý vi phạm di tích lịch sử ải Chi Lăng; phòng ngừa tình trạng trẻ em chết đuối; giải quyết bồi thường ruộng đất cho nông dân do đã bị trưng dụng; ngăn ngừa trẻ em phạm pháp; ngăn ngừa những hiện tượng xích mích, mâu thuẫn dân tộc trong các hợp tác xã miền núi và giải quyết khiếu nại và vi phạm pháp luật.
Với cương vị là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt rất quan tâm đến việc xây dựng và tổ chức các mối quan hệ công tác của Viện kiểm sát với các ngành, các cấp như: Quy định về quan hệ phối hợp giữa giữa Viện kiểm sát nhân dân các cấp với các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương; Quy định về định trách nhiệm của các cơ quan trong việc khám nghiệm tử thi, về chế độ trang bị phòng ngừa và phụ cấp khám nghiệm tử thi; Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ công tác giữa hai cơ quan Kiểm sát và Thanh tra các cấp; Quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an.
Về công tác xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân: Sau khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 26/7/1960; tháng 12 năm 1960, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã quyết định thành lập Viện kiểm sát nhân dân các khu, thành, tỉnh, huyện, thị xã, hoặc cấp hành chính tương đương để hoạt động kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1961. Tháng 1 năm 1961, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức các Viện kiểm sát phúc thẩm và hướng dẫn việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Ngày 06/12/1961, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Chỉ thị số 01/VP về chế độ báo cáo xin chỉ thị theo nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo xây dựng và trình ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (ngày 16/4/1962). Cũng trong năm 1962, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã trực tiếp chỉ đạo một số công tác quan trọng trong tổ chức và hoạt động của ngành như quy định về chế độ lập chương trình công tác và thực hiện thí điểm việc cải tiến tổ chức và cải tiến lề lối làm việc ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương. Cũng trong năm 1964, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã mở lớp bồi dưỡng ngắn hạn tại Hà Nội cho cán bộ nghiên cứu mới vào ngành đang làm công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự ở các Viện kiểm sát địa phương chưa qua lớp bồi dưỡng nào. Ngày 15/01/1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962. Theo Pháp lệnh (sửa đổi) năm 1970 đã sửa đổi bổ sung Điều 5 và Điều 7 của Pháp lệnh năm 1962, quy định: Bộ máy làm việc và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát định và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn (Điều 5 mới) và thành lập ngạch Kiểm sát viên gồm có Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp (Điều 7 mới).
Từ kết quả công tác kiểm sát chung và công tác kiểm sát hình sự, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổng hợp và báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng nhiều vấn đề có liên quan đến việc thực thi pháp luật và pháp chế ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và địa phương như:
- Báo cáo ngày 25/9/1961 của Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng về tình hình khu gang thép Thái Nguyên.
- Báo cáo số 3450/ĐĐ ngày 09/11/1961 của Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng về vi phạm pháp luật trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp.
- Tháng 2 năm 1963, đồng chí Viện trưởng Hoàng Quốc Việt thay mặt Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có báo cáo số 04/ĐĐ gửi Bộ Chính trị về công tác kiểm sát năm 1962 và dự kiến phương hướng nhiệm vụ năm 1963 để xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị; đồng thời đề xuất với bộ Chính trị về một số công tác của Viện kiểm sát. Ngày 01/02/1963, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 68-NQ/TW về công tác kiểm sát.
- Ngày 31/05/1963, Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Báo cáo số 280/ĐĐ trình Ban Bí thư Trung ương về tình hình công tác kiểm sát 4 tháng đầu năm 1963 và đề nghị Ban Bí thư chỉ đạo các cấp ủy Đảng lưu ý về việc điều chuyển cán bộ lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp làm công tác khác.
- Báo cáo số 3968/ĐĐ ngày 21/12/1964, Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo và đề nghị Ban Bí thư kiểm tra, uốn nắn và có chủ trương, hướng dẫn các địa phương Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình… trong vấn đề theo dõi, xử lý các phần tử trong Thiên chúa giáo có biểu hiện hoạt động chống phá cách mạng.
Từ năm 1965 đến năm 1975 là thời kỳ miền Bắc nước ta vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại trực tiếp của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. ở miền Nam, trong suốt giai đoạn này Đảng và nhân dân ta tập trung thực hiện nhiệm vụ tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Một trong những yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà là phải có sự thống nhất giữa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước với ý chí nguyện vọng của nhân dân, thực hiện pháp chế thống nhất để phục vụ công cuộc cách mạng của nước ta giành thắng lợi.
Trong giai đoạn này, nhiều văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã được đồng chí Hoàng Quốc Việt ký ban hành và chính Viện trưởng Hoàng Quốc Việt cũng có nhiều biện pháp chỉ đạo cụ thể để toàn Ngành phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng như:
Ngày từ cuối năm 1964 đầu năm 1965, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã làm việc với Thường vụ Thành ủy Hà Nội bàn kế hoạch giải quyết tình hình khiếu nại về việc vi phạm quyền dân chủ, tham ô, lãng phí.
Tháng 9 năm 1966, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Đề cương báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng về tình hình cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật. Đề cương Báo cáo nêu lên những nguyên nhân chủ yếu và đề xuất một số biện pháp khắc phục tình hình vi phạm như “Phải có kế hoạch đấu tranh từng bước, nhưng toàn diện: kết hợp giữa giáo dục tư tưởng và xử lý về kỷ luật (kỷ luật hành chính hoặc đưa ra pháp luật), kết hợp giữa công tác tư tưởng với công tác chấn chỉnh tổ chức và lề lối làm việc, kết hợp giữa cơ quan Nhà nước với lực lượng quần chúng” nhằm chống các vi phạm pháp luật trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tháng 3 năm 1967, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến dự và phát biểu với hội nghị tổng kết công tác năm 1966 và bàn phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 1967 của ngành Kiểm sát nhân dân. Khi nói về chuyên chính vô sản, về pháp chế xã hội chủ nghĩa, về tăng cường và củng cố cơ quan Nhà nước và nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân; đồng chí Lê Duẩn nói: “... Ngành Kiểm sát là một trong những công cụ của Nhà nước dân chủ nhân dân, có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, tăng cường chuyên chính đối với bọn phản cách mạng, tăng cường kỷ luật xã hội trong quần chúng nhân dân. Nói đến kiểm tra việc tuân theo pháp luật, cần chú trọng trước hết kiểm tra việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, bởi vì sự vi phạm của một số công dân nào đó đối với pháp luật có lẽ không tai hại bằng những sự lạm quyền của các cơ quan chính quyền, các cơ quan quản lý kinh tế, văn hóa và của những người có trách nhiệm thi hành pháp luật. Nếu những người này làm sai pháp luật thì chẳng những vi phạm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, mà còn làm trái chủ trương, chính sách là sinh mạng của Đảng, là linh hồn của pháp luật Nhà nước; điều đó sẽ đánh vào nguồn gốc sức mạnh của chế độ ta là sự tín nhiệm và ủng hộ của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Vì vậy, trước hết phải bảo đảm sự tôn trọng pháp luật một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ của các cơ quan Nhà nước, của những người thay mặt nhân dân nắm quyền hành chính và công việc quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội.
Để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trong nhân dân, ngành kiểm sát cần kiểm tra các vụ bắt giam và xét xử một cách sáng suốt, thận trọng. Đối với những hành vi phạm pháp của một số công dân, cần có biện pháp xử lý thích đáng, kiên quyết không xử oan một người ngay, nhưng cũng không để lọt một kẻ có tội.
... Chúng ta phải đem tấm lòng ưu ái của người cộng sản đối với những đau khổ của con người, kết hợp với yêu cầu giữ gìn những quy tắc của cuộc sống chung trong xã hội mà xử phạt sao cho công minh, nhằm giáo dục, cải tạo những người phạm pháp trở thành những người lương thiện, nhằm ngăn ngừa những hành động sai trái. Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm mọi cách để làm giảm bớt những hành động phạm pháp và tốt hơn nữa là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái xảy ra”.
Tại cuộc họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đầu năm 1968, sau khi nghe các ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân báo cáo công tác năm 1967; đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã phát biểu ý kiến nêu rõ: “…Không có cơ quan Nhà nước nào thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt”.
Tháng 8 năm 1970, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã cùng tập thể Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các đơn vị toàn ngành quán triệt yêu cầu, mục đích và nội dung của cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh theo Nghị quyết 195 của Bộ Chính trị.
Trong giai đoạn này, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chỉ đạo toàn Ngành tập trung công kiểm sát vào việc phục vụ các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng đề ra tại các văn bản của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng như: Thông tri số 222-TT/TW ngày 12/9/1968 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ đạo đợt vận động quản lý thị trường, chống đầu cơ, lấy cắp vật tư, hàng hoá của Nhà nước; Chỉ thị số 205- CT/TW ngày 13/10/1973 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc ngăn chặn tệ lấy cắp vật tư, hàng hoá của Nhà nước bảo đảm trật tự nơi công cộng; Nghị quyết số 228-NQ/TW ngày 12/01/1974 của Bộ Chính trị về cuộc đấu tranh chống lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, chống làm ăn phi pháp, tăng cường quản lý lao động, quản lý thị trường, giữ vững trật tự trị an, phục vụ tốt phong trào lao động sản xuất và tiết kiệm, phục vụ tốt đời sống nhân dân; Chỉ thị số 205-CT/TW ngày 13/10/1973 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nhằm khắc phục những khuyết điểm tồn tại như việc khám nhà, bắt người, thu giữ tài sản vừa có hiện tượng tràn lan, vừa có hiện tượng bỏ lọt vi phạm và tội phạm không điều tra và xử lý; Thông tri số 302-TT/TW ngày 03/7/1974 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra về việc tổ chức thi hành Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 208-CT/TW ngày 16/9/1974 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra về việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp và cải tiến một bước quản lý nông nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa...
Ngày 26/6/1974, thay mặt ba ngành và Đảng đoàn ba cơ quan Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có báo cáo lên Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác phối hợp đảm bảo thi hành Nghị quyết số 228-NQ/TW ngày 12/01/1974 của Bộ Chính trị. Ngày 24/02/1975, Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Công văn số 279-ĐĐ có đề nghị Ban Tổ chức Trung ương Đảng kiểm tra công tác xây dựng Đảng ở Xưởng dụng cụ cao su thuộc Tổng cục Đường sắt...
Trong thời gian 10 năm từ 1965 đến 1975, từ kết quả công tác kiểm sát, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành 65 văn bản về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực như các báo cáo, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; các văn bản gửi các ngành, các địa phương về những vấn đề quan trọng trong công tác quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật để phục vụ nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng quan trọng này như:
- Công tác kiểm sát góp phần “giữ gìn an ninh miền Bắc, kiên quyết đánh bại mọi hoạt động phá hoại của bọn gián điệp và phản cách mạng trong tình hình hiện nay”.
- Việc thực hiện các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật ở các tỉnh miền Núi; việc đổi ruộng giữa hợp tác xã nông nghiệp với nông dân chưa vào hợp tác xã; việc chấp hành chính sách lương thực và biện pháp xử lý đối với những người làm ăn không đúng ngành nghề và tham ô, lãng phí lương thực; khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc tổ chức phân tán và bảo quản kho tàng của ngành lương thực .v.v.
- Việc thực hiện các quy định của Nhà nước trong việc sử dụng nhà của dân vì lợi ích chung; việc kiểm kê định kỳ theo quy định của Nhà nước; tăng cường công tác kiểm tra, uốn nắn việc dân quân sử dụng súng đạn vô nguyên tắc; chống buông lỏng quản lý trong ngành đường sắt; quản lý lâm nghiệp; quản lý thị trường; quản lý xe, quản lý vận chuyển hàng hoá...theo đúng quy định hiện hành; việc cung cấp vải, đường... phục vụ công tác thu mua, bài trừ nạn đầu cơ, tích luỹ.v.v.
- Chỉ đạo việc xử lý tội phạm về kinh tế phù hợp với thời chiến; xử lý các vi phạm pháp luật tại xí nghiệp bán lẻ; giải quyết tình hình vi phạm dân chủ ở Hợp tác xã nông nghiệp; tình hình quản lý than phế phẩm, phế liệu và chủ trương đổi than lấy vật liệu và có biện pháp xử lý những người đã lợi dụng việc mua bán trao đổi trên để tham ô, ăn cắp; đấu tranh chống tệ lấy cắp vật tư hàng hoá của Nhà nước và giữ gìn trật tự trị an ở thành phố và thị xã và bảo vệ tài sản, lương thực của Nhà nước khỏi bị hư hỏng; việc xử lý và bán nguyên vật liệu kém phẩm chất; xử lý vụ vi phạm nguyên tắc, chế độ tuyển sinh .v.v.
Về quan hệ với các ngành các cấp:
- Ngày 13/3/1968, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chủ trì cuộc họp cùng các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an; đồng chí Trần Hiệu, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đồng chí Phạm Văn Bạch, Chánh án Toà án nhân dân tối cao cùng các chuyên viên của ba cơ quan và đại diện của Ban Pháp chế Trung ương, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Nội chính Chính phủ để kiểm điểm về mối quan hệ giữa ba ngành trong công tác đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật.
- Ngày 09/3/1974, Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Đảng đoàn 4 cơ quan Bộ Công an, Uỷ ban Thanh tra Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã họp liên tịch, do đồng chí Trần Hiệu- Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì để bàn về công tác phối hợp đảm bảo thi hành Nghị quyết số 228-NQ/TW ngày 12/01/1974 của Bộ Chính trị. Tham gia cuộc họp này còn có đại diện Văn phòng nội chính Phủ Thủ tướng, Ban Tổ chức Trung ương.
- Ngày 17/4/1974, thay mặt bốn cơ quan, Đảng đoàn Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Thông báo số 49/TB- ĐĐ gửi các ngành hữu quan để tổ chức thực hiện, đồng thời báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng.
- Ngày 22/5/1974, Đảng đoàn ba cơ quan Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã họp liên tịch thống nhất áp dụng thủ tục rút ngắn nhằm phục vụ kịp thời, có hiệu quả Nghị quyết 228-NQ/TW ngày 12/01/1974 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 26/6/1974, thay mặt ba ngành, Đảng đoàn Viện kiểm sát có Thông báo số 59/ĐĐ và Thông báo số 60/ĐĐ về kết quả hội nghị liên tịch nói trên.
Về công tác xây dựng Ngành: Ngày 25/4/1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết thành lập Trường đào tạo và bổ túc cán bộ kiểm sát theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngày 09/3/1971, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 19/V9-TC về việc quản lý chỉ tiêu lao động và tiền lương thống nhất trong Ngành từ trung ương xuống địa phương và các khoản kinh phí khác của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành, trong đó có cả cấp huyện. Ngày 24/9/1971, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản số 2321/V9 ban hành quy định “Tiêu chuẩn tạm thời để xét nâng bậc của cán bộ nhân viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân các địa phương” (kèm với Chỉ thị số 18/V9 ngày 28/8/1971).
Trong thời gian làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã trực tiếp chỉ đạo các cơ quan thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát địa phương đưa ra truy tố, xét xử nhiều vụ án nghiêm trọng và phức tạp như: Vụ án Trần Viết Chỉ ở Nam Định (1961); Vụ án Nguyễn Đình Đản cùng đồng bọn buôn bán hàng hoá trái phép (buôn bán thuốc phiện), đầu cơ tích trữ hàng hoá trái phép, gian lậu thuế… ở Hoà Bình (1964); Vụ án Trương Việt Hùng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng nông nghiệp Phủ Thủ tướng can tội “Cố ý giết người có dự mưu” (1965); Vụ án Ngô San Trung, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài vụ, Tổng Cục lương thực cùng 7 cán bộ có liên quan đến vụ án, có 3 là cán bộ trung, cao cấp (1965); Vụ án Lương Huy Hân, linh mục phản động đã có hành vi phạm tội Chống phá chính sách hợp tác hoá nông nghiệp bằng tuyên truyền phản động, phá hợp tác xã và chống thuế nông nghiệp, tổ chức và rải truyền đơn chống đối chính quyền, kêu gọi lật đổ và ủng hộ Mỹ, chống phá đường lối giáo dục phổ thông của Nhà nước ta bằng việc giáo dục tư tưởng phản động, đưa người xấu thay người tốt vào dạy ở các trường không được chính quyền cho phép... để đưa ra truy tố (1965); Vụ án Nguyễn Trọng Thuỷ ở thành phố Hải Phòng (1966); Vụ án Lương Văn Hạng, nguyên Uỷ viên hành chính kiêm phó phòng thuỷ lợi huyện Hạ Lang, can tội “Cố ý giết người có dự mưu” (1966); Vụ án Trần Xuân Cồ can tội “Cưỡng dâm con nuôi” ở Hải Dương (1966); Vụ án Vũ Quang Phúc cùng đồng bọn can tội thành lập tổ chức phản cách mạng ở Hà Nội (1966); Vụ án Phạm Bá Đạt cùng đồng bọn can tội “Hoạt động thành lập và tham gia tổ chức phản cách mạng chống lại chính quyền dân chủ nhân dân” ở Ninh Bình (1967); Vụ án Nguyễn Phú Thọ, Bùi Đức Tín và đồng bọn can tội “Hoạt động thành lập tổ chức phản cách mạng chống chính quyền dân chủ nhân dân” ở Hà Nội (1968); Vụ án Giàng Xay Chú can tội giết người ở Nghĩa Lộ (1968); Vụ án Nguyễn Đình Độ can tội “giết người” ở Hải Phòng (1968); Vụ án Nguyễn Hữu Thi can tội “cố ý giết người” ở Hải Hưng (1968) .v.v.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam nước ta ta đã được giải phóng, đất nước đã thống nhất, giang sơn ta nối liền từ Bắc vào Nam; đồng bào Nam, Bắc đã xum họp một nhà; cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước ngày 25/4/1976 đã bầu ra Quốc hội khoá VI. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca của nước ta. Quốc hội đã quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước. Quốc hội đã quyết định những vấn đề quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát triển mới của dân tộc; quyết định về đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam thống nhất; quyết định xây dựng Hiến pháp, về cơ cấu lãnh đạo của Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới, bầu các cơ quan đó để điều hành công việc chung của cả nước.
Cũng tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khoá VI họp từ ngày 24/6 đến 03/7/1976, tại Hà Nội, theo sự phân công mới của Đảng và Nhà nước, cũng là thể theo nguyện vọng của đồng chí Hoàng Quốc Việt; Quốc hội đã nhất trí để đồng chí Hoàng Quốc Việt thôi giữ chức Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nhận công tác khác và cũng tại kỳ họp này, Quốc hội Khoá VII đã bầu đồng chí Trần Hữu Dực giữ chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong công tác hàng ngày, với cương vị là Thủ trưởng Ngành, đồng chí Hoàng Quốc Việt đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ kiểm sát vừa hồng, vừa chuyên, có đạo đức và phẩm chất cách mạng trong sáng như pha lê. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chỉ đạo các cấp kiểm sát:
“Để phát huy đầy đủ tác dụng của công tác kiểm sát trong tình hình mới, làm cho ngành Kiểm sát thực sự xứng đáng là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, chúng ta cần:
1. Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị và tư tưởng bao gồm giáo dục đường lối chính sách của Đảng, nâng cao tính giai cấp, tính tiền phong và tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ toàn ngành. Qua thực tế công tác, nhất là qua đợt học tập chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc bảo vệ Đảng, chúng ta càng thấy rõ có nâng cao những phẩm chất trên đây chúng ta mới có đầy đủ nghị lực và tinh thần kiên quyết đấu tranh để trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải tăng cường việc bồi dưỡng ý thức tổ chức và kỷ luật, đạo đức cách mạng cho cán bộ toàn ngành, làm cho mỗi người chúng ta phải có tinh thần kỷ luật và ý thức trách nhiệm cao, có đầy đủ những đức tính cần thiết của người cán bộ Kiểm sát là: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn.
Muốn cho công tác giáo dục chính trị và tư tưởng được thực hiện tốt, việc trước hết là chúng ta phải tăng cường sinh hoạt chính trị và tư tưởng của chi bộ Đảng ở cơ quan. Hiện nay, nhiều chi bộ đang tiến hành xây dựng chi bộ 4 tốt. Đây là một dịp tốt để chúng ta nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ nhằm tăng cường công tác giáo dục thường xuyên về chính trị và tư tưởng cho Đảng viên, đẩy mạnh phê bình và tự phên bình trong chi bộ, giúp cho đảng viên kịp thời hiểu được tình hình và nhiệm vụ mới, nắm được đường lối chính sách của Đảng, bồi dưỡng ý chí phấn đấu, phẩm chất và đạo đức cách mạng cho đảng viên, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đối với cán bộ ngoài Đảng, chi bộ cần phải phối hợp với chính quyền và công đoàn để có kế hoạch theo dõi giúp đỡ về các mặt: Quan điểm lập trường giai cấp và đạo đức xã hội chủ nghĩa, tác phong công tác.
2. Về mặt nghiệp vụ, chúng ta cần tăng cường hơn nữa kiểm tra của trên đối với dưới để kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai sót trong việc chấp hành chính sách và pháp luật cũng như trong vấn đề về tư tưởng đạo đức và tác phong của cán bộ.
3. Khi giải quyết công việc, chúng ta phải biết vận dụng chính sách, sách lược cho chính xác. Trong những vấn đề thuộc về mâu thuẫn địch ta, chúng ta phải thực hiện phương pháp chuyên chính mạnh mẽ, thẳng tay trừng trị bọn phản cách mạng, có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bọn cầm đầu và có sách lược phân hoá cao đối với bọn tay chân. Trong những vấn đề thuộc về nội bộ nhân dân, chúng ta phải lấy phương pháp thuyết phục, giáo dục làm chính, mạnh dạn áp dụng nhiều biện pháp xử lý có tình, nhưng đối với nhân dân lao động nhất thời phạm pháp nhẹ nên mạnh dạn đưa về cho các tổ chức quần chúng giúp đỡ, phê phán để cải tạo, giáo dục họ, tránh áp dụng đơn thuần phương pháp trừng trị, bỏ tù để giải quyết.
4. Trong hoàn cảnh mới, mọi mặt công tác của chúng ta đều có nội dung và yêu cầu mới. Để đáp ứng yêu cầu đó, chúng ta cần có kế hoạch công tác có trọng tâm trọng điểm, đẩy mạnh việc rút kinh nghiệm, chú trọng đến công tác nghiên cứu, kịp thời đề xuất những vấn đề mới, tích cực góp phần vào việc xây dựng pháp luật, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tham mưu đối với cấp uỷ. Trong công tác đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, chúng ta cần có nhận thức đầy đủ hơn nữa về chức năng của ngành, biết vận dụng một cách có kết quả nhất các khâu nghiệp vụ kiểm sát để thực hiện tốt phương châm: Chính xác, triệt để và kịp thời...
5. Cán bộ kiểm sát cần phải ra sức bồi dưỡng hơn nữa quan điểm quần chúng trong công tác của mình, đi sát cơ sở, dựa vào quần chúng để làm án và xử lý các vi phạm pháp luật, xây dựng công tác kiểm sát trên cơ sở của đông đảo quần chúng, kết hợp chặt chẽ việc đấu tranh bảo vệ pháp chế với toàn bộ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân. Bồi dưỡng quan điểm quần chúng không những là cơ sở để chúng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác mà còn là cơ sở để chúng ta nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, cải tạo tác phong, tự bồi dưỡng cho mình những đức tính không thể thiếu được của người cán bộ kiểm sát là: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn...”.
Trải qua gần 70 năm hoạt động, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, để lại cho giai cấp công nhân, cho đồng bào, đồng chí chúng ta những tình cảm vô cùng quý mến. Trong 16 năm liền, kể từ năm 1960 đến năm 1976, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Đảng, Nhà nước giao cho nhiệm vụ tổ chức lãnh đạo ngành Kiểm sát nhân dân, là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao dầu tiên và giữ chức vụ này trong nhiều năm, đồng chí Hoàng Quốc Việt là tấm gương mẫu mực cho toàn ngành Kiểm sát nhân dân học tập, phấn đấu noi theo. Đồng chí Hoàng Quốc Việt là một cán bộ kiểm sát tiêu biểu nhất, và ngành Kiểm sát nhân dân rất vinh dự được đứng trong đội ngũ có một đồng chí Thủ trưởng Ngành kính mến như đồng chí Hoàng Quốc Việt./. |