thong bao
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 82 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2012)

  Hà NộiCloudy 14°C. - 17°C.
  TP HCMPartly Cloudy 24°C. - 33°C.
  Đà NẵngRain 20°C. - 23°C.


TRAO ĐỔI
Thư điện tử nội bộ
Diễn đàn điện tử (Forum)
Trao đổi trực tuyến (Chat)
Hỏi đáp (Q/A)
Tin báo tố giác tội phạm

All Vksndtc.gov.vn


CÁC ỨNG DỤNG CNTT


CÁC DỊCH VỤ
Nhận tin qua email


3239707

TÌM KIẾM VĂN BẢN PHÁP LUẬT


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

 

Viện kiểm sát nhân dân

cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam

tối cao

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-*-

-----------------------------------

Số: 169/2004/QĐ-VKSTC

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2004

 

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

Về việc ban hành Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý

công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân

----

 

                    VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm  sát nhân dân năm 2002;

- Xét yêu cầu của công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong ngành Kiểm sát nhân dân;

- Theo đề nghị của ông Chánh Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này  bản Quy chế về thông tin, báo cáo,  quản lý công tác trong ngành kiểm sát nhân dân.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Quyết định này thay thế quyết định số 14/QĐ ngày 14/4/1999 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Điều 3: Các ông Chánh Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định này./.

 

KT. VIỆN TRƯỞNG

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

 

 

 

 

 

                         Đã ký : Trần Thu

 

 

 

     VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỐI CAO

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-*-

-----------------------------------

 

 

 

 

QUY CHẾ

Về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong

ngµnh Kiểm sát nhân dân

 

(Ban hành theo Quyết định số 169/2004/QĐ-VKSTC ngày 20/12/2004

của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)

----------

 

Ch­ương I

Những quy định chung

Điều 1: Quy chế này quy định về:

- Việc thu thập, xử lý thông tin trong ngành kiểm sát nhân dân, bao gồm cả Viện kiểm sát quân sự các cấp (sau đây gọi tắt là Viện kiểm sát các cấp).

- Việc lập báo cáo, gửi báo cáo của Viện kiểm sát các cấp và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch công tác và kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện kế hoạch công tác của Viện kiểm sát các cấp và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 Điều 2: Thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành kiểm sát nhân dân:

1- Thông tin trong ngành Kiểm sát là những thông tin liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của ngành.

2- Báo cáo trong ngành Kiểm sát là một hình thức phản ánh về tình hình hoặc kết quả thực hiện chức năng nhiệm vụ của các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát trong phạm vi thời gian nhất định, trên cơ sở đó đề xuất những ý kiến với cấp có thẩm quyền nhận báo cáo.

Báo cáo trong ngành Kiểm sát được thực hiện chủ yếu bằng văn bản. Thời hạn, nội dung và hình thức của báo cáo thực hiện theo quy định tại chương II của Quy chế này.

3- Viện kiểm sát các cấp quản lý công tác bằng kế hoạch, đảm bảo nguyên tắc kế hoạch cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo, định hướng của kế hoạch cấp trên; kế hoạch chuyên ngành, kế hoạch bộ phận phải tuân theo kế hoạch chung trong từng cấp kiểm sát.

Điều 3:  Trách nhiệm thu thập, tiếp nhận và xử lý thông tin:

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm thu thập, tiếp nhận và xử lý thông tin, cung cấp thông tin, khai thác thông tin theo quy định tại Điều 6, Điều 7 của Quy chế này để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành.

Điều 4: Trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo, thông báo:

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp,  Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, thông báo được quy định từ điều 8 đến điều 15 của Quy chế này. Việc báo cáo, thông báo phải thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác, bảo đảm an toàn, bí mật, theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nội dung báo cáo, thông báo. Thẩm quyền ký báo cáo và thông báo thực hiện theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 5: Trách nhiệm xây dựng, triển khai, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác:

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm xây dựng, triển khai thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác.

Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Ban kế hoạch tổng hợp Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Ban kế hoạch tổng hợp Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai có trách nhiệm giúp Viện trưởng cấp mình trong việc xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Quân khu và tương đương, Viện trưởng VKS quân sự khu vực trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch công tác của đơn vị mình.

Thủ trưởng các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát cấp trên có nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, chỉ đạo và kiểm tra các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện Kế hoạch, Chương trình công tác thuộc khâu nghiệp vụ đơn vị mình phụ trách.

Ch­ương II

Chế độ  thông tin, báo cáo và thông báo

Điều 6: Tiếp nhận thông tin:

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm tổ chức việc thu thập, tiếp nhận thông tin liên quan đến ngành Kiểm sát từ các nguồn sau:

- Qua công tác tiếp công dân, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, tin báo tố giác tội phạm theo các quy định hiện hành của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Qua các công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND.

- Qua giao ban công tác trong ngành và với các ngành khác.

- Qua việc thực hiện chế độ báo cáo và thông báo trong ngành.

- Qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến.

Điều 7: Xử lý thông tin:

Tất cả các thông tin do Viện kiểm sát các cấp nhận được phải xử lý kịp thời, chính xác và đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật và các quy định  của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc tiếp nhận và xử lý thông tin ở các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp và Viện kiểm sát cấp dưới trực tiếp.

Điều 8: Các loại báo cáo, thông báo trong ngành KSND:

1- Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kỳ họp Quốc hội; với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giữa hai kỳ họp của Quốc hội; báo cáo với Chủ tịch nước, báo cáo tháng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Văn phòng Trung ương Đảng, Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Ban Nội chính Trung ương, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban nghiên cứu của Bộ Chính trị về an ninh quốc gia.

2- Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương trước Hội đồng nhân dân và cấp uỷ Đảng cùng cấp.

3- Báo cáo định kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới gửi Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên, báo cáo của Trưởng phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp gồm: Báo cáo tuần, Báo cáo tháng, Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, Báo cáo tổng kết công tác năm, Báo cáo sơ kết công tác thi đua - khen thưởng sáu tháng đầu năm, Báo cáo tổng kết công tác thi đua - khen thưởng năm, Báo cáo công tác tài chính theo quy định của Luật ngân sách. Chế độ Báo cáo tuần được thực hiện đối với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Thủ trưởng đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và Trưởng phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh qua Văn phòng.

4- Báo cáo về tình hình bắt, tạm giữ, tạm giam và xử lý hàng tuần của Viện kiểm sát cấp dưới gửi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

5- Điểm những tin chính đăng trên các báo, tạp chí có liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát các cấp.

6- Báo cáo ban đầu.

7- Báo cáo đột xuất.

8- Báo cáo chuyên đề và các văn bản pháp lý khác.

9 - Báo cáo thỉnh thị.

10- Báo cáo theo các Quy chế nghiệp vụ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.

11- Báo cáo thống kê tháng, 6 tháng và 12 tháng, Báo cáo thống kê phục vụ các kỳ họp Quốc hội.

12- Thông báo.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố có thông báo tuần và thông báo tháng về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm và kết quả công tác kiểm sát, các thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ; thông báo kết quả kiểm tra công tác kiểm sát và các công tác khác; thông báo các việc có liên quan giữa các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa các phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh; giữa các Viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp huyện; thông báo kết quả kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm  của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi các đơn vị trực thuộc và các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi các phòng nghiệp vụ và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Điều 9: Thời gian lấy số liệu báo cáo, nội dung báo cáo, thời hạn gửi báo cáo tổng hợp định kỳ:

1- Báo cáo công tác tuần: Lấy số liệu từ thứ 6 tuần trước đến thứ 5 tuần sau. Nội dung phản ánh đầy đủ tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm và kết quả công tác trong tuần trên tất cả các lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, những kiến nghị, đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có). Viện kiểm sát cấp huyện và các phòng nghiệp vụ có báo cáo ở Viện kiểm sát cấp tỉnh (Văn phòng) vào ngày thứ 5 của tuần baó cáo. Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Văn phòng) vào ngày thứ 2 của tuần sau. Các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo ở Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào sáng ngày thứ 5 của tuần báo cáo.

2- Báo cáo về tình hình bắt, tạm giữ, tạm giam và xử lý tuần: Lấy số liệu từ thứ 6 tuần trước đến thứ 5 tuần sau. Nội dung nêu tổng số người bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong tuần, phân tích rõ các hình thức bắt và xử lý. Viện kiểm sát cấp huyện và các phòng kiểm sát điều tra có báo cáo ở Viện kiểm sát cấp tỉnh vào sáng ngày thứ 5 của tuần báo cáo; Viện kiểm sát cấp tỉnh, các Vụ THQCT, KSĐT, KSXX sơ thẩm án hình sự, Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Văn phòng) vào chiều ngày thứ 5 của tuần báo cáo.

3- Điểm những tin chính đăng trên các báo, tạp chí có liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân: Do Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện hàng tuần. Thời gian từ thứ 6 tuần trước đến thứ 5 tuần sau. Nội dung tổng hợp các thông tin chính đăng trên các báo và tạp chí có liên quan trực tiếp đến hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chuyển đến Viện kiểm sát tỉnh, thành phố, các đơn vị có liên quan yêu cầu xem xét giải quyết, trả lời báo; đồng thời báo cáo kết quả giải quyết về Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua phòng Tổng hợp thuộc Văn phòng). Các tin có liên quan trực tiếp đến hoạt động của ngành do báo địa phương nêu, Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét giải quyết.

4- Báo cáo công tác tháng: Lấy số liệu từ ngày 01 đến ngày cuối  cùng của tháng. Nội dung báo cáo đánh giá khái quát tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm và kết quả công tác trong tháng trên tất cả các lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ được phân công; những kiến nghị đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên (nếu có). Thời hạn có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là ngày 4, các phòng nghiệp vụ là ngày 5 tháng sau. Thời hạn có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là ngày 12, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương là ngày 15 tháng sau. Các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp tỉnh có báo cáo tháng ở các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 7 tháng sau. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo tháng vào ngày 20 tháng sau.

5- Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm: Lấy số liệu từ ngày 1/12 năm trước đến ngày 31/5 năm sau. Nội dung báo cáo đánh giá khái quát diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, kết quả công tác kiểm sát; công tác xây dựng ngành trong thời gian báo cáo, những việc đã làm được, chưa làm được, nguyên nhân và trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp; phương hướng, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm.

Các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh vào ngày 6/6. Các phòng nghiệp vụ có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh vào ngày 7/6 và có báo cáo ở các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 10/6; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 15/6. Viện kiểm sát quân sự Trung ương và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 22/6.

 Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của toàn ngành vào ngày 5/7.

6- Báo cáo tổng kết công tác năm: Lấy số liệu từ ngày 1/12 năm trước đến 30/11 năm sau. Nội dung báo cáo tương tự báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, riêng phần phương hướng, nhiệm vụ công tác trong thời gian tới được tách ra bằng một bản Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác riêng.

Các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh vào ngày 7/12. Các phòng nghiệp vụ có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh vào ngày 10/12 và có báo cáo ở các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 15/12.

Các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 20/12. Các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương có báo cáo ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 25/12.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo tổng kết công tác năm của toàn ngành vào ngày 10/1 năm sau.

7 - Báo cáo sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng: Lấy số liệu cùng thời gian với báo cáo sơ kết, tổng kết công tác kiểm sát.

Nội dung báo cáo sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng đánh giá kết quả công tác thi đua - khen thưởng trong thời gian báo cáo, những việc làm được, chưa làm được, nguyên nhân và trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp. Những đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên. Phương hướng công tác thi đua, khen thưởng trong sáu tháng cuối năm và năm sau.

Báo cáo sơ kết công tác thi đua - khen thưởng 6 tháng đầu năm và hồ sơ đề nghị khen thưởng của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, các phòng nghiệp vụ có ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng) vào ngày 10/6. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự Trung ương và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo và hồ sơ đề nghị khen thưởng ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Thi đua thuộc Văn phòng) vào ngày 20/6.

Báo cáo tổng kết công tác thi đua - khen thưởng và hồ sơ thi đua khen thưởng của Viện kiểm sát nhân dân cấp  huyện và các phòng nghiệp vụ có ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng) vào ngày 12/12. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự Trung ương và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo và hồ sơ đề nghị khen thưởng ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Thi đua thuộc Văn phòng) vào ngày 22/12.

8- Thời gian lấy số liệu, nội dung báo cáo và thời hạn gửi báo cáo phục vụ việc xây dựng Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các kỳ họp Quốc hội và các cơ quan khác; của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân cùng cấp và các cơ quan khác theo quy định của các cơ quan trên.

Điều 10: Báo cáo ban đầu:

1- Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo ban đầu bằng văn bản lên Viện kiểm sát cấp trên những vụ, việc được quy định tại danh mục A kèm theo Quy chế này, trong thời gian 24 giờ đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, 48 giờ đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kể từ khi Viện kiểm sát nắm được sự việc. Trường hợp cấp thiết có thể báo cáo bằng điện thoại nhưng sau đó phải có báo cáo bằng văn bản.

2- Báo cáo ban đầu phải nêu rõ thời gian, địa điểm,diễn biến sự việc, hậu quả xảy ra, kết quả xác minh, điều tra ban đầu, các biện pháp pháp lý đã áp dụng, các tác nghiệp của Viện kiểm sát và ý kiến đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên. Sau khi nhận được báo cáo ban đầu của Viện kiểm sát cấp dưới, các đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên phải báo cáo ngay với Viện trưởng cấp mình để có biện pháp chỉ đạo kịp thời đối với Viện kiểm sát cấp dưới.

3- Đối với các vụ, việc quan trọng, sau báo cáo ban đầu, Viện kiểm sát cấp dưới phải có báo cáo về diễn biến sự việc, tiến độ giải quyết trong từng thời gian và những đề nghị với Viện kiểm sát cấp trên.

Điều 11: Báo cáo đột xuất:

1- Viện kiểm sát các cấp phải báo cáo ngay lên Viện kiểm sát cấp trên những vụ, việc xảy ra ở đơn vị mình. Báo cáo đột xuất phải nêu rõ thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc, hậu quả xảy ra, kết quả xử lý của Viện kiểm sát cấp dưới, những đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên.

2- Báo cáo đột xuất những việc khác theo yêu cầu của Viện kiểm sát cấp trên, nội dung do Viện kiểm sát cấp trên quy định.

Điều 12: Báo cáo chuyên đề và các văn bản pháp lý khác:

1- Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi lên Viện kiểm sát cấp trên các loại báo cáo chuyên đề và các văn bản pháp lý theo danh mục B của Quy chế này gồm các loại báo cáo sau:

- Báo cáo chuyên đề về các khâu nghiệp vụ.

- Các văn bản pháp lý do Viện kiểm sát phát hành và văn bản tiếp thu của các ngành.

- Báo cáo tiến độ và kết quả giải quyết công tác trọng tâm theo chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên.

- Các báo cáo chuyên đề khác theo yêu cầu chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên khi thấy cần thiết.

2- Các báo cáo chuyên đề và văn bản pháp lý khác do Viện kiểm sát cấp tỉnh phát hành khi gửi các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng gửi Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Phòng Tổng hợp) một bản để theo dõi, nắm tình hình chung, tổng hợp làm các loại báo cáo phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp. Trường hợp phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp tỉnh đảm nhiệm nhiều khâu công tác, khi gửi báo cáo phải gửi tới tất cả các đơn vị nghiệp vụ có liên quan ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

3- Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo nghiệp vụ, kết luận, kiến nghị, kháng nghị và các văn bản pháp lý khác của các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố,  đồng gửi lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các đơn vị trực thuộc có liên quan một bản, gửi Văn phòng (Phòng Hành chính và Phòng Tổng hợp) hai bản, một bản để lưu, một bản để theo dõi, nắm tình hình chung, tổng hợp làm các loại báo cáo phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện.

Điều 13: Báo cáo thỉnh thị và trả lời thỉnh thị:

1- Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên những vụ việc được quy định trong danh mục C kèm theo Quy chế này và những việc khác khi Viện kiểm sát cấp dưới thấy cần thiết phải thỉnh thị. Báo cáo thỉnh thị phải bằng văn bản, do lãnh đạo Viện ký và có hồ sơ kèm theo.

2- Nếu Viện kiểm sát cấp dưới thỉnh thị xin hướng dẫn nghiệp vụ thì các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên trả lời; nếu thỉnh thị xin ý kiến về đường lối giải quyết vụ án thì lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên xem xét trả lời.

3- Những việc thỉnh thị về đường lối xử lý, trước khi thỉnh thị phải được thảo luận trong tập thể lãnh đạo, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Báo cáo thỉnh thị phải đề xuất cụ thể các phương án giải quyết, nêu cả ý kiến của cấp uỷ và các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương (nếu có) về đường lối xử lý đối với vụ, việc. Trừ trường hợp cần thiết được sự đồng ý của Viện kiểm sát cấp trên thì báo cáo ngay, còn lại phải đăng ký trước một tuần đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh thỉnh thị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ba ngày đối với Viện kiểm sát cấp huyện thỉnh thị Viện kiểm sát cấp tỉnh và phải do lãnh đạo Viện kiểm sát cấp thỉnh thị trực tiếp báo cáo cùng với kiểm sát viên trực tiếp thụ lý vụ, việc.

4- Việc trả lời thỉnh thị phải bằng văn bản trong thời hạn 7 ngày đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh, 15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ và báo cáo thỉnh thị. Hết thời hạn nói trên nếu Viện kiểm sát cấp trên chưa trả lời kịp phải thông báo rõ lý do để Viện kiểm sát cấp thỉnh thị biết.

5- Các văn bản trả lời thỉnh thị có ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh. Các đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên khi được lãnh đạo Viện uỷ quyền, trước khi có văn bản trả lời thỉnh thị cho Viện kiểm sát cấp dưới cần thảo luận kỹ giữa lãnh đạo và kiểm sát viên thụ lý vụ, việc và phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Viện về ý kiến trả lời của mình. ý kiến trả lời thỉnh thị của các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên thì Viện kiểm sát cấp dưới phải thực hiện, nếu không nhất trí hoặc còn có những điểm chưa nhất trí phải có văn bản nói rõ lý do với đơn vị trả lời thỉnh thị và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trả lời thỉnh thị biết để cho ý kiến chỉ đạo tiếp. Trong trường hợp việc trả lời thỉnh thị liên quan đến việc giải quyết của các đơn vị khác nhau trong cùng một cấp kiểm sát, hoặc liên quan đến việc giải quyết của các cơ quan thuộc ngành khác cùng cấp thì cơ quan trả lời thỉnh thị phải trao đổi thống nhất với các cơ quan, đơn vị đó để việc thực hiện giữa các đơn vị, cơ quan cấp dưới được thống nhất.

Điều 14: Báo cáo theo Quy chế do Viện KSNDTC quy định:

Ngoài Quy chế này Viện kiểm sát cấp dưới phải thực hiện chế độ báo lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy định tại các Quy chế khác do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành, nếu Quy chế này không có quy định khác.

Điều 15: Thời gian lấy số liệu, thời hạn có báo cáo thống kê tháng, 6 tháng và 12 tháng:

1- Thời gian lấy số liệu thống kê tháng, 6 tháng và 12 tháng theo thời gian lấy số liệu làm báo cáo tổng hợp định kỳ tháng, sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và tổng kết công tác năm.

2- Thời hạn có báo cáo thống kê tháng:

Báo cáo thống kê tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng hoặc phòng Thống kê) vào ngày 4 tháng sau.

Báo cáo thống kê tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự TW có ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục Thống kê tội phạm) vào ngày 10 tháng sau.

Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo thống kê tháng của toàn ngành vào ngày 15 tháng sau.

3- Thời hạn có báo cáo thống kê 6 tháng:

Báo cáo thống kê 6 tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng hoặc phòng thống kê) vào ngày 5/6; của các phòng nghiệp vụ vào ngày 6/6.

Báo cáo thống kê 6 tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự TW có ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục thống kê tội phạm) vào ngày 10/6.

Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo thống kê 6 tháng của toàn ngành vào ngày 17/6.

4- Thời hạn có báo cáo thống kê 12 tháng:

Báo cáo thống kê 12 tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng hoặc phòng thống kê) vào ngày 5/12.

 Báo cáo thống kê 12 tháng của các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự TW có ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục thống kê tội phạm) vào ngày 10/12.

Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có báo cáo thống kê 12 tháng của toàn ngành vào ngày 20/12.

5- Báo cáo Thống kê hình sự - Thống kê tội phạm liên ngành:

Các loại báo cáo thống kê, thời gian lấy số liệu thống kê, thời hạn có thống kê theo quy định của liên ngành Trung ương và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 16: Nguyên tắc sử dụng số liệu thống kê:

Việc sử dụng số liệu thống kê trong ngành KSND phải tuân theo chế độ bảo mật. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp trên khi xây dựng các loại báo cáo tổng hợp, báo cáo chuyên đề ... phải sử dụng số liệu thống kê do đơn vị thống kê của cơ quan mình tập hợp, không được tự lập ra các biểu mẫu thống kê riêng để yêu cầu các Viện kiểm sát và đơn vị nghiệp vụ cấp dưới thực hiện. Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các phòng thống kê, bộ phận thống kê Viện kiểm sát nhân dân địa phương và VKS quân sự có trách nhiệm cung cấp số liệu thống kê cho các đơn vị của cơ quan mình khi có yêu cầu theo chỉ đạo của Viện trưởng cùng cấp. Trong trường hợp hệ thống thống kê không đáp ứng được số liệu để phục vụ cho việc báo cáo với cơ quan Đảng, Nhà nước, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trao đổi với Cục thống kê tội phạm để trình lãnh đạo Viện quyết định ban hành biểu mẫu bổ sung.

Điều 17: Việc gửi báo cáo, tài liệu qua đường Cơ yếu:

Các đơn vị trong toàn ngành phải chấp hành đúng việc gửi các loại tài liệu, báo cáo qua đường Cơ yếu theo quy định tại Quyết định số 88/2004/QĐ-TTg ngày 21/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 481/2004/QĐ-BCA (A11) ngày 27/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật Nhà nước độ Mật, Tuyệt mật, Tối mật trong ngành Kiểm sát. Đơn vị nhận được các loại tài liệu báo cáo trên phải sao gửi các đơn vị khác có liên quan để phối hợp giải quyết.

Sau khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoàn thành lắp đặt Trung tâm tích hợp dữ liệu do Cục thống kê tội phạm quản lý, các đơn vị có thể gửi báo cáo, tài liệu bằng hình thức truyền qua mạng, Cục thống kê tội phạm có trách nhiệm chuyển đến các đơn vị theo yêu cầu của đơn vị truyền dữ liệu.

Ch­ương III

Quản lý công tác

Điều 18: Chế độ quản lý công tác của Viện kiểm sát các cấp:

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp thực hiện chế độ quản lý công tác theo các bước: Xây dựng Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác; tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác và sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác.

Điều 19: Xây dựng Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác:

1- Hàng năm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Chỉ thị về nhiệm vụ công tác năm và Chỉ thị về công tác thi đua - khen thưởng của ngành KSND.

Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai và các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có kế hoạch công tác năm. Kế hoạch của Viện kiểm sát cấp dưới phải căn cứ vào Chỉ thị và Kế hoạch của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên theo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và căn cứ vào tình hình nhiệm vụ chính trị của địa phương để xây dựng.

2- Chỉ thị về nhiệm vụ công tác hàng năm của ngành kiểm sát nhân dân được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chậm nhất vào ngày 10/1 năm kế hoạch. Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh được ban hành chậm nhất ngày 15/1 năm kế hoạch. Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai, Viện kiểm sát quân sự khu vực, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được ban hành chậm nhất ngày 20/1 năm kế hoạch.

3- Chương trình công tác và hướng dẫn công tác năm của các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành chậm nhất ngày 12/1 năm kế hoạch, khi gửi Lãnh đạo Viện để báo cáo, đồng gửi Văn phòng (phòng tổng hợp) để theo dõi. Văn phòng có trách nhiệm nghiên cứu, nếu có ý kiến khác phải kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao để chỉ đạo.

4- Ngoài kế hoạch, chương trình công tác năm, Viện kiểm sát các cấp và các đơn vị nghiệp vụ còn có Kế hoạch thực hiện các chuyên đề công tác nhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị, địa phương khi thấy cần thiết.

5- Kế hoạch công tác năm của Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi Viện kiểm sát cấp trên để báo cáo. Sau khi nhận được Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm sát cấp trên phải tổ chức nghiên cứu, nếu có ý kiến khác thì trong thời hạn 7 ngày phải có văn bản chỉ đạo kịp thời cho Viện kiểm sát cấp dưới.

6- Viện kiểm sát cấp trên tổ chức duyệt Kế hoạch của Viện kiểm sát cấp dưới khi thấy cần thiết.

Điều 20: Triển khai thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác:

1- Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, thủ trưởng các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kế hoạch, chương trình công tác năm của đơn vị mình ngay sau khi Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình được quyết định chính thức.

2- Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Chương trình công tác quý của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tối cao để triển khai thực hiện Chỉ thị công tác năm trong từng quý. Chương trình công tác quý được quyết định trước tuần đầu của tháng đầu quý.

3- Các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Chương trình công tác năm và Chương trình công tác tháng để cụ thể hoá việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch của Viện kiểm sát cấp mình, đồng thời hướng dẫn cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện khâu công tác thuộc đơn vị phụ trách. Các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có Chương trình công tác tháng. Chương trình công tác tháng được quyết định trong tuần cuối của tháng trước.

4- Chương trình công tác của các đơn vị phải đề ra những nội dung công tác cụ thể, biện pháp thực hiện, phân công người, bộ phận đảm nhiệm và định rõ thời gian hoàn thành.

Điều 21: Kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác:

Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác của các đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát cấp dưới theo định kỳ hoặc đột xuất. Ngoài kiểm tra toàn diện, Viện kiểm sát cấp trên có thể kiểm tra chuyên khâu nhằm phục vụ yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên.

Việc tiến hành kiểm tra được thực hiện theo Quy chế kiểm tra và các Quy chế nghiệp vụ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

Điều 22: Đánh giá việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác:

Viện kiểm sát các cấp và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tổ chức đánh giá việc thực hiện Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác theo định kỳ (tháng, 6 tháng, năm), đối chiếu với Chỉ thị, Kế hoạch và Chương trình công tác xem việc gì đã làm được, việc gì chưa làm được, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra các biện pháp để đảm bảo thực hiện có hiệu quả Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác của đơn vị.

Ch­ương IV

Điều khoản thi hành

Điều 23: Tổ chức thực hiện:

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quy chế này. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.

Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện Quy chế này trong toàn ngành./.

 

 

KT. Viện tr­ưởng

 

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

 

Phó Viện tr­ưởng

 

                            §· ký:TrÇn Thu

 

 

 

 

 

 

 

Danh mục A

 

Những vụ, việc Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo ban đầu về Viện kiểm sát cấp trên (theo điều 10 của Quy chế).

1- Các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia thuộc chương XI BLHS năm 1999.

2-  Các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp về ma tuý thuộc chương XVIII BLHS năm 1999.

3- Những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến người nước ngoài.

4- Những vụ án có người phạm tội là cán bộ có chức vụ cao ở địa phương như lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, cấp tỉnh; những vụ án có người phạm tội là cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; những người có chức sắc trong tôn giáo; già làng, trưởng bản.

5- Những vụ trộm cắp, lừa đảo, huỷ hoại tài sản gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

6- Những vụ án kinh tế phức tạp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, cần có ý kiến chỉ đạo của cấp trên ngay sau khi phát hiện sự việc.

7- Những vụ án tham nhũng, buôn lậu, đưa và nhận hối lộ có tổ chức hoặc liên quan đến cán bộ có chức vụ cao gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

8- Các vụ giết người, giết người cướp tài sản có tổ chức, có vũ khí, hiếp dâm có nhiều người tham gia, hiếp dâm trẻ em.

9- Các vụ vi phạm quyền dân chủ gây hậu quả nghiêm trọng, có ảnh hướng lớn về chính trị.

10- Các vụ tai nạn giao thông, tai nạn lao động làm chết nhiều người gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

11- Những vụ cháy nổ kho tàng, nhà máy, cháy rừng gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.

12- Những vụ chết người nghi không phải là tự sát hoặc chết ở nhà tạm giữ, trại tạm giam nghi không phải là do bệnh lý. Phạm nhân, bị can chết do tai nạn lao động,do dịch bệnh ở nơi giam giữ.

13- Những vụ gây rối trật tự công cộng có nhiều người tham gia; những vụ tổ chức đua xe trái phép.

14- Những vụ người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng trốn khỏi nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam.

15- Những vụ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khác và những vụ phạm tội khác gây ảnh hưởng xấu trong nhân dân xảy ra ở địa phương.

16- Những vụ, việc khiếu nại, tố cáo bức xúc có nhiều người thamgia ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội xảy ra ở địa phương liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân.

--------------------------------------

        

 

Danh mục B

 

Những báo cáo chuyên đề và văn bản pháp lý Viện kiểm sát cấp dưới gửi lên Viện kiểm sát cấp trên thay báo cáo (theo điều 12 của Quy chế).

1- Kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; kiến nghị các cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

2- Các văn bản tiếp thu kháng nghị, kiến nghị của các cơ quan đơn vị gửi đến Viện kiểm sát (kể cả các văn bản không nhất trí với kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát).

3- Các quyết định không phê chuẩn bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, không phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam, không gia hạn tạm giam, quyết định không phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định khởi tố bị can. Các quyết định huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra và VKS cấp dưới (kèm theo bản sao các quyết định trên).

4- Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát khởi tố. Các văn bản của Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án và khởi tố bị can, thay đổi điều tra viên.

 5- Cáo trạng, các quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án do bị can không phạm tội, quyết định tạm đình chỉ vụ án và bị can của Viện kiểm sát.

6- Quyết định trả tự do theo điểm 1 điều 28 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.

7- Quyết định kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, hành chính, lao động v.v...

8- Kết luận, kháng nghị, kiến nghị kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; việc thi hành án hình sự, dân sự.

9- Kết luận giải quyết đơn do Viện kiểm sát cấp trên chỉ đạo, yêu cầu.

10- Báo cáo kết quả kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự có bị cáo bị tuyên phạt tử hình. Báo cáo kết quả kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động do Viện kiểm sát kháng nghị.

11- Báo cáo về kiểm sát việc giam các bị án tử hình.

12- Báo cáo kết quả kiểm sát việc thi hành án tử hình.

13- Báo cáo tình hình, kết quả giải quyết đơn do các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu và Đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Đảng và báo chí chuyển đến.

14- Báo cáo kết quả giải quyết các vụ, việc do các cơ quan báo chí nêu khi Viện kiểm sát cấp trên có ý kiến chỉ đạo. Báo cáo kết quả giải quyết đơn gửi các cơ quan Đảng, Nhà nước, các Uỷ ban của Quốc hội, đoàn Đại biểu Quốc hội, Mặt trật Tổ quốc Việt Nam chuyển đến hoặc do Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển đến.

15- Báo cáo kết quả kiểm sát việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

16- Báo cáo các trường hợp cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trả tự do do không phạm tội, đình chỉ điều tra do không phạm tội; các trường hợp Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung; các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, toà án tuyên không phạm tội; các vụ án dân sự bị hình sự hoá và ngược lại.

17- Báo cáo việc kháng nghị, không kháng nghị đối với các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Toà án tuyên không phạm tội (kèm theo bản sao kháng nghị).

18- Báo cáo các trường hợp oan, sai và kết quả giải quyết việc bồi thường oan, sai thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.

19- Báo cáo kết quả kiểm điểm trách nhiệm và xử lý cán bộ có liên quan đến các trường hợp oan, sai thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.

-------------------------------

 

Danh mục C

 

Những vụ việc Viện kiểm sát cấp dưới phải thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên (theo điều 13 của Quy chế).

1- Khi Viện kiểm sát khởi tố hoặc phê chuẩn bắt tạm giam và khi kết thúc điều tra, trước khi xử lý, đối với:

- án trọng điểm do các ngành Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

- Trưởng một ngành (hoặc tương đương) từ cấp tỉnh trở lên.

- Người có chức sắc cao trong các tôn giáo.

- Nhân sỹ, trí thức có các chức danh do Nhà nước phong tặng; người nưới ngoài.

2- án nghiêm trọng, phức tạp có vướng mắc giữa cấp uỷ hoặc các ngành với Viện kiểm sát mà địa phương không tự giải quyết được.

3- Những vụ, việc do Viện kiểm sát cấp trên uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện chức năng theo luật định, khi thực hiện có khó khăn, vướng mắc.

4- Những việc khác trong các khâu công tác Kiểm sát có khó khăn, tự mình không giải quyết được.

5- Cán bộ trong ngành Kiểm sát vi phạm pháp luật nghiêm trọng./.

--------------------------------------


















Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Việt Hùng, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: