|
Quy chÕ
VÒ chøc tr¸ch, nhiÖm vô vµ
chÕ ®é lµm viÖc cña c¸c viÖn
thùc hµnh quyÒn c«ng tè vµ
kiÓm s¸t xÐt xö phóc thÈm
ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tèi
cao
***
(Ban
hành theo quyết định số 17/2005/QĐ/VKSTC ngày 28 tháng 01 năm 2005
của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
VÞ trÝ, nhiÖm
vô vµ quyÒn h¹n
Điều 1:
Vị trí.
Các
Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm( gọi tắt là Viện
phúc thẩm) là đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có trách
nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình
sự; kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ việc dân sự,
các vụ án hành chính, phá sản doanh nghiệp và các vụ án khác theo quy
định của pháp luật thuộc khu vực được phân công, làm tham mưu cho lãnh đạo
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử.
Điều 2: Nhiệm vụ và quyền hạn.
Các
Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện những
nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1- Thực hành quyền công tố tại các phiên toà phúc thẩm hình sự và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà phúc thẩm
Toà án nhân dân tối cao đối với những bản án, quyết định sơ thẩm hình sự,
dân sự, hành chính, phá sản doanh nghiệp và các vụ án khác của Toà án nhân
dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị; nhằm đảm bảo cho việc xét xử công
khai, dân chủ, công bằng, đúng pháp luật.
2-
Phát hiện những bản án và quyết định của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật, có vi phạm pháp luật, ra quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm; kháng nghị bổ sung theo thủ tục phúc thẩm.
3- Rút
một phần hoặc toàn bộ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh và của Viện phúc thẩm đối với các bản án và quyết định sơ thẩm của
Toà án nhân dân cấp tỉnh khi xét thấy không có căn cứ.
4-
Phát hiện những bản án và quyết định phúc thẩm của Toà án cùng cấp và
những bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng, hoặc có tình tiết mới nhưng không thuộc thẩm quyền giải
quyết của cấp phúc thẩm, báo cáo đề xuất việc kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
5-
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm phát hiện tổng hợp tình hình
vi phạm trong việc áp dụng pháp luật đối với các vụ án ở cả hai cấp sơ
thẩm và phúc thẩm để kiến nghị, yêu cầu khắc phục hoặc thông báo rút kinh
nghiệm, giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo chung.
6-
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, phát hiện kiến nghị với các
cơ quan hữu quan khắc phục các vi phạm, sơ hở trong quản lý là nguyên
nhân, điều kiện phát sinh tội phạm.
7-
Phát hiện những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết các
vụ án hình sự; các vụ việc dân sự; các vụ án hành chính, phá sản doanh
nghiệp và các vụ án khác và những văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, để
đề xuất với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có biện pháp giải
quyết.
8- Tổ
chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
Chương II
Tæ chøc bé
m¸y, nhiÖm vô cña c¸c chøc danh
Điều 3:
Tổ chức bộ máy làm việc của các Viện phúc thẩm.
1- Bộ
máy của Viện phúc thẩm có:
- Lãnh
đạo Viện
- Văn
phòng
- Các
tổ nghiệp vụ
2- Cán
bộ ở Viện phúc thẩm có các chức danh:
- Viện
trưởng và các Phó Viện trưởng.
- Các
kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
-
Chánh văn phòng, Phó văn phòng.
- Các
cán bộ, công chức chuyên môn nghiệp vụ.
Điều 4:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng Viện phúc thẩm.
Viện
trưởng Viện phúc thẩm là kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
đồng thời là thủ trưởng đơn vị được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao uỷ quyền quản lý chỉ đạo toàn diện đơn vị cả về nghiệp vụ và hành
chính. Viện trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1-
Quán triệt Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề ra
kế hoạch công tác từng thời kỳ và tổ chức quản lý chỉ đạo điều hành công
tác của đơn vị.
2- Sắp
xếp tổ chức và sử dụng có hiệu quả lực lượng cán bộ hiện có theo đúng chức
trách, quan tâm đến đời sống về vật chất và tinh thần đối với cán bộ của
đơn vị; phối hợp với Chi uỷ, Ban chấp hành Công đoàn của đơn vị để xây
dựng và lãnh đạo phong trào thi đua hoàn thành nhiệm vụ.
3-
Trực tiếp chỉ đạo các vụ án sau đây:
a) án
sơ thẩm tuyên phạt tử hình.
b) án
mà kiểm sát viên dự kiến đề nghị cải sửa cơ bản so với án sơ thẩm bao gồm:
- Cải
sửa từ tử hình xuống tù chung thân, tù có thời hạn và ngược lại.
- Cải
sửa từ tù chung thân xuống tù có thời hạn và ngược lại.
- Cải
từ tù giam sang án treo.
- Cải
sửa từ hình phạt tù xuống 1 hình phạt khác nhẹ hơn và ngược lại.
- Thay
đổi tội danh.
- Cải
sửa từ có tội sang không có tội và ngược lại.
- Thay
đổi khung hình phạt.
c) án
có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và của
Viện phúc thẩm.
d) Các
vụ án điểm, vụ án thuộc nhóm tội tham nhũng, ma tuý, buôn lậu lớn mà công
luận quan tâm và án an ninh quốc gia.
đ) Vụ
án dự kiến đề nghị cải sửa khác với sự hướng dẫn của các Vụ nghiệp vụ Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
e) Vụ
án dự kiến đề nghị huỷ để điều tra lại, huỷ để xét xử lại, huỷ để đình chỉ
vụ án.
g) Vụ
án cần giám định, điều tra bổ sung trước khi xét xử phúc thẩm.
h) Vụ
án có quan điểm khác nhau giữa kiểm sát viên với Hội đồng xét xử phúc thẩm
qua trù bị.
i) Vụ
án có nhân tố nước ngoài.
k) Vụ
án dự kiến đề xuất với Toà phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện
pháp ngăn chặn đối với bị cáo trước khi xét xử phúc thẩm.
l) án có ý kiến khác nhau giữa kiểm sát viên với kiểm sát viên
giữa kiểm sát viên với cán bộ nghiệp vụ.
m) Các vụ việc dân sự, hành chính, phức tạp.
n) Vụ
án phá sản doanh nghiệp; các vụ án hành chính mà bị đơn là cơ quan Nhà
nước từ cấp tỉnh và tương đương trở lên.
o) Vụ
án khác mà kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy cần báo cáo
hoặc Viện trưởng Viện phúc thẩm yêu cầu báo cáo.
4- Trực tiếp tham gia xét xử phúc thẩm khi xét thấy cần thiết.
5- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các quyết định và
bản án sơ thẩm của cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi
phạm pháp luật.
6- Rút
một phần hay toàn bộ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp tỉnh khi
xét thấy không có căn cứ.
7-
Quyết định việc điều tra bổ sung, việc giám định, giám định lại trước khi
xét xử phúc thẩm
8- Báo cáo đề xuất với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các quyết
định và bản án của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao khi có vi phạm,
và các quyết định, bản án sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh khi phát hiện có vi
phạm hoặc có tình tiết mới, nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết của
cấp phúc thẩm.
9- Tổ
chức tiếp dân đến khiếu tố và trực tiếp tiếp đương sự khi cần thiết.
10- Tổ chức quản lý và chỉ đạo về công tác hành chính tư pháp và
hành chính quản trị của đơn vị, là chủ tài khoản I của đơn vị (nếu có).
11-
Trực tiếp quản lý cán bộ và thực hiện đúng chính sách cán bộ theo phân cấp
quản lý của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
12- Tổ
chức thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo đúng quy định của ngành.
13- Tổ chức việc phát hiện và tích luỹ các tư liệu, đề ra các
kiến nghị hoặc thông báo rút kinh nghiệm hoặc đề xuất theo các khoản 5, 6,
7 Điều 2 của Quy chế này.
14-
Tăng cường việc xây dựng các mối quan hệ với Toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng nhiệm
vụ của mỗi cơ quan. Phối hợp với các Vụ nghiệp vụ có liên quan ở Viện kiểm
sát nhân dân tối cao trong công tác giải quyết án, để đảm bảo sự lãnh đạo
tập trung, thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
15-
Viện trưởng Viện phúc thẩm ký các báo cáo thỉnh thị, báo cáo đề nghị,
kháng nghị, kiến nghị, thông báo, hướng dẫn rút kinh nghiệm; các văn bản
giao dịch với các ngành, các cấp và các văn bản khác theo thẩm quyền
Điều 5: Nhiệm vụ
và quyền hạn của Phó Viện trưởng Viện phúc thẩm.
Phó
Viện trưởng Viện phúc thẩm là kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao
giúp Viện trưởng quản lý chỉ đạo điều hành những phần việc được phân công
phụ trách, thực hiện nhiệm vụ theo phân công của Viện trưởng; khi Viện
trưởng vắng mặt một Phó Viện trưởng thay thế Viện trưởng điều hành công
việc của toàn đơn vị. Trực tiếp tham gia xét xử các phiên toà phúc thẩm.
Khi tham gia các phiên toà phúc thẩm phải làm đúng chức trách kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Được
Viện trưởng phân công ký các loại văn bản thuộc phần việc phụ trách sau
đây :
-
Kháng nghị phúc thẩm đối với bản án và quyết định sơ thẩm của cấp tỉnh,
chưa có hiệu lực pháp luật và quyết định rút kháng nghị phúc thẩm của cấp
tỉnh các vụ án được Viện trưởng phân công quản lý, chỉ đạo.
- Văn
bản trả lời, trao đổi với Toà phúc thẩm, các Toà chuyên trách khác của Toà
án nhân dân tối cao và Toà án cấp tỉnh trong khu vực.
- Văn
bản hướng dẫn Viện kiểm sát địa phương đối với các vụ án bị cấp phúc thẩm
huỷ án để điều tra lại.
-
Thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ giữa các Viện kiểm sát cấp tỉnh.
Khi
được Viện trưởng phân công tham gia xét xử phúc thẩm, thừa uỷ quyền Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký các văn bản được quy định tại
điểm 7 Điều 6 quy chế này.
Điều 6:
Nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao công tác tại Viện phúc thẩm có
nhiệm vụ quyền hạn như sau:
1-
Chấp hành mọi sự phân công của Viện trưởng Viện phúc thẩm và chấp hành
đúng các Quy chế nghiệp vụ của ngành.
2- Khi
tham gia các phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên có nhiệm vụ vừa thực hành
quyền công tố vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của
Toà án nhằm đảm bảo cho việc xét xử của Toà án đúng pháp luật, nghiêm
minh, kịp thời.
3- Trước khi tham gia phiên toà, kiểm sát viên phải trực tiếp
nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc hồ sơ kiểm sát xét xử phúc thẩm do cán bộ
nghiên cứu xây dựng, nghiên cứu bổ xung chứng cứ mới. Kết quả nghiên cứu
phải được thể hiện trong hồ sơ lưu làm cơ sở cho việc dự thảo Quan điểm
của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Phải
chuẩn bị đề cương xét hỏi các bị cáo nhằm vào những vấn đề nêu trong kháng
cáo, kháng nghị và những vi phạm khác của bản án sơ thẩm mới phát hiện để
xử lý cho đúng.
Quan
điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên toà, đề cương
xét hỏi, dự kiến những vấn đề cần tranh luận với luật sư phải được chuẩn
bị bằng văn bản lưu trong hồ sơ.
Yêu cầu Toà phúc thẩm triệu tập những người tham gia tố tụng đến
phiên toà, nhất là đối với những vụ án quan trọng, phức tạp.
4- Báo
cáo Viện trưởng Viện phúc thẩm những vụ án được quy định tại khoản 3 Điều
4 của Quy chế này và chịu trách nhiệm về nội dung và chứng cứ của vụ án
đó. Các loại án khác tự mình chịu trách nhiệm.
Khi đã
có ý kiến của Viện trưởng, kiểm sát viên phải chấp hành nghiêm túc và chỉ
được thay đổi khi tại phiên toà thật sự có những tình tiết mới và xét thấy
có cơ sở đúng pháp luật và chịu trách nhiệm về kết luận của mình và phải
báo cáo ngay với Viện trưởng sau khi xét xử.
Kiểm
sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ theo quy định tại đoạn 2 Điều 13 Pháp
lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Phải từ chối nhiệm vụ hoặc bị
thay đổi nếu có căn cứ cho thấy có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
5- Tại
phiên toà kiểm sát viên tham gia xét hỏi để kiểm tra tính có căn cứ và
tính hợp pháp của bản án sơ thẩm đối với những vấn đề có kháng cáo, kháng
nghị, và những vi phạm pháp luật mới phát hiện. Căn cứ vào kết quả kiểm
tra mà điều chỉnh bổ sung những tình tiết mới khi phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Khi
tham gia phiên toà phúc thẩm hình sự, kiểm sát viên phải tiến hành tranh
luận với luật sư và những người tham gia tố tụng khác, có trách nhiệm giải
đáp những vấn đề có liên quan đến vụ án do luật sư và những người tham gia
tố tụng nêu ra.
6- Sau mỗi đợt tham gia xét xử, kiểm sát viên phải:
- Báo
cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện phúc
thẩm về kết quả xét xử các vụ án, đề xuất những vấn đề phát sinh cần giải
quyết tiếp đối với các vụ án (nếu có).
- Làm
báo cáo kết quả xét xử phúc thẩm gửi lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện phúc thẩm, Vụ 3, Vụ 5, Vụ 12 và Văn phòng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Đồng thời gửi đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
(sơ thẩm) thay thông báo kết quả xét xử phúc thẩm.
Dự
thảo báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với án phúc thẩm có sai phạm,
theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Quy chế này.
- Dự
thảo hướng dẫn để lãnh đạo ký hoặc hướng dẫn cho Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh giải quyết tiếp những vụ án bị Toà phúc thẩm huỷ án để điều tra
lại.
- Bổ
sung vào hồ sơ kiểm sát xét xử phúc thẩm những tài liệu cần thiết theo
đúng quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
7- Thừa uỷ quyền Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký
các văn bản sau:
- Quyết định trưng cầu giám định.
- Văn
bản yêu cầu điều tra, xác minh bổ sung phục vụ cho công tác kiểm sát xét
xử phúc thẩm.
- Giấy
triệu tập, giấy báo tin, văn bản trả lời đương sự, giấy chuyển đơn.
- Các
văn bản lấy lời khai, biên bản xác minh.
8- Thông qua công tác xét xử phúc thẩm phát hiện, tích luỹ tư
liệu để làm căn cứ cho việc kháng nghị, kiến nghị hoặc thông báo rút kinh
nghiệm v.v… đồng thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong việc áp
dụng Luật, Pháp lệnh các văn bản hướng dẫn Luật để báo cáo Viện trưởng
Viện phúc thẩm.
9- Phát hiện những vướng mắc trong hoạt động, công tác để đề
xuất ý kiến nhằm giúp Viện trưởng cải tiến việc quản lý, chỉ đạo điều hành
trong Viện phúc thẩm.
Điều 7: Cán bộ, công chức
công tác ở tổ nghiệp vụ.
Cán
bộ, công chức công tác ở các tổ nghiệp vụ có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1-Nghiên cứu hồ sơ chính để xây dựng hồ sơ kiểm sát xét xử phúc
thẩm theo đúng quy định, nhằm giúp kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tối cao đủ tư liệu để kết luận tại các phiên toà phúc thẩm.
2-
Trực tiếp điều tra, xác minh bổ sung một số tình tiết đơn giản ở một số vụ
án do Viện trưởng Viện phúc thẩm giao, được quyền lập và ký các biên bản
lấy lời khai và các biên bản xác minh khác.
3-
Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ mà phát hiện, tích luỹ tư liệu để làm căn
cứ cho việc kháng nghị, kiến nghị hoặc thông báo rút kinh nghiệm v.v…,
đồng thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Luật,
Pháp lệnh, các văn bản hướng dẫn Luật để báo cáo Viện trưởng Viện phúc
thẩm.
4-
Phát hiện những vấn đề vướng mắc trong hoạt động công tác để đề xuất ý
kiến, nhằm giúp thủ trưởng đơn vị cải tiến việc quản lý, chỉ đạo điều hành
trong Viện phúc thẩm.
5-
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng Viện phúc thẩm phân công.
Điều 8: Nhiệm
vụ của Văn phòng.
Văn
phòng là đơn vị thuộc Viện phúc thẩm có trách nhiệm giúp Viện trưởng:
1-
Quản lý chặt chẽ toàn bộ hồ sơ án thụ lý, tiến độ giải quyết án và thông
qua báo cáo kết quả kiểm sát xét xử phúc thẩm, nắm nội dung giải quyết án
của các kiểm sát viên và của Toà phúc thẩm.
2- Tổ
chức quản lý chặt chẽ các văn bản giấy tờ đi và đến, làm tốt công tác lưu
trữ theo quy định chung.
3-
Tích luỹ tư liệu, xây dựng các văn bản, báo cáo tổng hợp định kỳ và không
định kỳ theo đúng quy định.
4- Hệ
thống hoá và quản lý các văn bản pháp luật cần thiết phục vụ cho công tác
kiểm sát xét xử phúc thẩm.
5-
Hàng tháng phối hợp với Toà phúc thẩm tại khu vực dự kiến lịch phiên toà
cho các kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao một cách hợp lý, kịp
thời, trình Viện trưởng Viện phúc thẩm quyết định để triển khai thực hiện.
Phân
loại hồ sơ vụ án để chuyển cho kiểm sát viên và cán bộ nghiên cứu xây dựng
hồ sơ kiểm sát xét xử phúc thẩm.
6-
Tích luỹ tổng hợp những vi phạm pháp luật của các cơ quan và người tiến
hành tố tụng ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, những thiếu sót sơ hở
trong công tác quản lý là nguyên nhân, điều kiện để tội phạm phát sinh,
báo cáo với Thủ trưởng đơn vị để kháng nghị, kiến nghị, thông báo rút kinh
nghiệm, xây dựng các đề tài, chuyên đề nghiệp vụ . Tích luỹ, tổng hợp
những vấn đề vướng mắc khó khăn trong việc áp dụng các Luật và Pháp lệnh
do các kiểm sát viên, cán bộ phát hiện báo cáo với thủ trưởng đơn vị để
báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu giải quyết.
7-
Thực hiện việc thống kê kết quả công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm và
thống kê tội phạm theo quy định.
8-Tiếp
nhận, quản lý, theo dõi tiến độ và kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo theo quy định.
9-Quản
lý tài sản, trang thiết bị, các nguồn kinh phí theo chế độ quy định.
Điều 9:
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Văn phòng.
Chánh Văn phòng
có nhiệm vụ giúp Viện trưởng Viện phúc thẩm quản lý và điều hành mọi hoạt
động của Văn phòng. Chánh văn phòng có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1-Tổ chức thực
hiện nhiệm vụ của Văn phòng Viện phúc thẩm được quy định tại điều 8 Quy
chế này. Chủ động đề xuất với lãnh đạo Viện phúc thẩm về chương trình công
tác năm và biện pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
2. Trực tiếp
chịu trách nhiệm giúp Viện trưởng Viện phúc thẩm về công tác tham mưu tổng
hợp; quản lý công tác hành chính tư pháp, công tác nghiệp vụ, công tác tổ
chức cán bộ cũng như các mặt sinh hoạt, hội họp, thi đua, quản lý lao động
và chịu trách nhiệm về công tác hậu cần của đơn vị, là chủ tài khoản II
của đơn vị (nếu có).
3. Phân công
nhiệm vụ cụ thể, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của
Phó Văn phòng, cán bộ, công chức thuộc quyền.
4. Phối hợp với
tổ trưởng các tổ nghiệp vụ trong đơn vị để giải quyết công việc được giao.
5.Được Viện
trưởng Viện phúc thẩm uỷ nhiệm ký các văn bản giao dịch thông thường.
6. Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo đơn vị giao.
Điều 10:
Nhiệm vụ, quyền hạn của Phó Văn phòng.
Phó Văn phòng
có nhiệm vụ giúp Chánh Văn phòng quản lý, điều hành công việc chung của
Văn phòng, được Chánh Văn phòng phân công một số công việc cụ thể và chịu
trách nhiệm trước Chánh Văn phòng về nhiệm vụ được giao. khi Chánh Văn
phòng đi vắng, Phó Văn phòng được Chánh Văn phòng uỷ nhiệm điều hành công
việc chung của Văn phòng.
Điều 11:Cán
bộ công chức công tác ở Văn phòng.
Cán bộ, công
chức công tác ở Văn phòng thực hiện các nhiệm vụ quy định tại điều 8 của
quy chế này theo sự phân công của Chánh Văn phòng.
Chương III
Mèi
quan hÖ c«ng t¸c
Điều 12:
Mối quan hệ công tác với lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
1-
Viện trưởng Viện phúc thẩm báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (trực tiếp là đồng chí Phó Viện trưởng phụ trách khối).
a) Về chương
trình kế hoạch công tác, báo cáo sơ kết, tổng kết, các đề tài chuyên đề
nghiệp vụ, về công tác tổ chức cán bộ và công tác quan trọng khác của đơn
vị.
b) Các vụ án mà
quan điểm của Viện phúc thẩm khác với sự hướng dẫn của các Vụ nghiệp vụ
hoặc ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các vụ án
có ý kiến khác nhau giữa Viện trưởng Viện phúc thẩm với kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc giữa các đồng chí lãnh đạo của Viện phúc
thẩm; các vụ án lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu báo cáo;
các vụ án Viện phúc thẩm thấy cần báo cáo.
Trường hợp Viện
trưởng Viện phúc thẩm chưa nhất trí với ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phụ trách khối thì báo cáo Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định. Trong trường hợp phải
thi hành ngay thì Viện trưởng Viện phúc thẩm phải chấp hành ý kiến chỉ đạo
của đồng chí Phó Viện trưởng phụ trách khối và báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 13:
Quan hệ với các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh .
1- Các Viện
phúc thẩm phối hợp với các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành theo chỉ thị công tác hàng
năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, xây dựng các văn bản
hướng dẫn áp dụng pháp luật và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ trong
ngành.
2- Phối hợp với
các Vụ nghiệp vụ ( Vụ 1, Vụ 2, Vụ 3, Vụ 4, Vụ 5, Vụ 7, Vụ 12 ) giải quyết
những vụ án có liên quan, đảm bảo sự thống nhất trong việc chỉ đạo, hướng
dẫn đối với các địa phương và thực hiện sự lãnh đạo tập trung thống nhất
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Đối với các
vụ án sau mà quan điểm của Viện phúc thẩm khác với các vụ nghiệp vụ thì
Viện phúc thẩm báo cáo Phó Viện trưởng phụ trách khối quyết định, có Vụ
nghiệp vụ tham gia dự :
+ Các vụ án do
Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp điều tra; các vụ án
do các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Viện kiểm sát nhân
dân tối cao trực tiếp kiểm sát điều tra.
Các vụ án của
địa phương có sự hướng dẫn chỉ đạo của các Vụ nghiệp vụ trước đó.
+ Các vụ án
điểm, án lớn, phức tạp do các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra cần có sự chỉ đạo thống nhất từ giai đoạn sơ thẩm đến phúc thẩm thì
các vụ nghiệp vụ cần thông báo cho các Viện phúc thẩm biết để tham gia
trong quá trình giải quyết vụ án. Tuỳ theo từng vụ có thể để Viện phúc
thẩm tham gia qua các lần sơ kết, tổng kết hoặc từ giai đoạn làm cáo
trạng, truy tố vụ án.
- Văn bản hướng
dẫn chỉ đạo của các Vụ nghiệp vụ ( Vụ 1, Vụ 2, Vụ5, Vụ12... ) đối với các
vụ án của địa phương cần gửi cho Viện phúc thẩm để biết, theo dõi giải
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
- Phối hợp với
Vụ 3, Vụ 5, Vụ 12 trong việc tổng kết rút kinh nghiệm, chuyên đề nghiệp vụ
cho các Viện kiểm sát địa phương, Viện phúc thẩm cung cấp các vi phạm
trong việc xét xử của toà án sơ thẩm và phúc thẩm cho các Vụ nói trên để
các Vụ tổng hợp, báo cáo, làm tham mưu cho lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân
tối cao để ra các kiến nghị, kháng nghị với Chánh án Toà án nhân dân tối
cao.
Các Vụ 3, Vụ 5,
Vụ 12 phải nghiên cứu, báo cáo lãnh đạo Viện kịp thời các vụ án do Viện
phúc thẩm báo cáo đề xuất đề nghị lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao
xem xét kháng nghị giám đốc thẩm và thông báo kết quả cho Viện phúc thẩm
biết, gửi cho Viện phúc thẩm các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, kết
quả xét xử giám đốc thẩm và quyết định giám đốc thẩm của Hôị đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao để các Viện phúc thẩm nghiên cứu, rút kinh
nghiệm.
Trong trường
hợp không nhất trí với thông báo không kháng nghị giám đốc thẩm vụ án của
các Vụ 3,Vụ 5, Vụ 12, các Viện phúc thẩm báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao xem xét quyết định.
Các Vụ 3, Vụ 5,
Vụ 12 hàng năm phải phối hợp với các Viện phúc thẩm sơ kết rút kinh nghiệm
về công tác kháng nghị giám đốc thẩm.
- Phối hợp với
Vụ 4 để nắm các trường hợp giam giữ quá hạn, tạm giam trái pháp luật ở
giai đoạn xét xử phúc thẩm để có kiến nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao khắc phục vi phạm ( nếu có ).
3- Phối hợp với
Viện khoa học kiểm sát trong việc nghiên cứu các đề tài, chuyên đề, hướng
dẫn nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, đề xuất xây dựng
bổ sung sửa đổi pháp luật liên quan đến việc giải quyết các vụ án hình sự,
dân sự, lao động, hành chính, kinh tế, phá sản doanh nghiệp và các vụ việc
khác có liên quan.
4- Phối hợp với
Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện tốt chương trình kế
hoạch công tác, quản lý hành chính tư pháp, trang bị phương tiện, kinh phí
phục vụ cho hoạt động của đơn vị; bố trí xe cho kiểm sát viên đi xét xử,
giao nhận hồ sơ.
5- Phối hợp với
Vụ tổ chức cán bộ trong việc xây dựng tổ chức bộ máy, thực hiện đủ biên
chế đã được phân bổ, về công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm
cán bộ, thưc hiện chế độ chính sách đối với cán bộ.
6-Phối hợp với
Cục thống kê tội phạm để thực hiện việc thống kê kết quả công tác kiểm sát
xét xử phúc thẩm và công tác thống kê tội phạm.
7- Phối hợp với
Vụ khiếu tố để quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.
8- Các Viện
phúc thẩm 1, 2, 3 phối hợp với Vụ kế hoạch tài chính trong việc cấp phát
kinh phí cho toàn bộ hoạt động của đơn vị.
9- Mối quan hệ
giữa các Viện phúc thẩm với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: Các Viện
phúc thẩm thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh biết trước những
vụ án sắp đưa ra xét xử phúc thẩm tại địa phương và kết quả xét xử sau
phiên toà; liên hệ với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để nắm được các vụ
án trọng điểm, tham nhũng, buôn lậu… để chủ động chuẩn bị cho việc xét xử
ở cấp phúc thẩm; nắm các vụ án cần kháng nghị phúc thẩm để kịp thời kháng
nghị theo thẩm quyền; thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh về
những vi phạm thiếu sót trong hoạt động tố tụng của cấp sơ thẩm được phát
hiện qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm để rút kinh nghiệm và có biện
pháp khắc phục.
- Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh gửi cho Viện phúc thẩm tại khu vực bản cáo trạng,
bản án sơ thẩm, báo cáo kết quả kiểm sát xét xử sơ thẩm, quyết định kháng
nghị phúc thẩm, quyết định thay đổi bổ sung hoặc rút kháng nghị phúc thẩm,
báo cáo đề nghị kháng nghị phúc thẩm…; văn bản hướng dẫn của các Vụ nghiệp
vụ hoặc văn bản chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong
quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm nay có kháng cáo, kháng nghị.
10- Quan hệ
giữa các Viện phúc thẩm là quan hệ phối hợp cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ
công tác được giao, làm tham mưu ngày càng tốt hơn cho Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Hàng năm luân phiên tổ chức các cuộc trao đổi
kinh nghiệm giữa các Viện phúc thẩm, để không ngừng nâng cao chất lượng về
mọi mặt của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm.
Điều 14:
Quan hệ với Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao.
Viện phúc thẩm
quan hệ thường xuyên với Toà phúc thẩm tại khu vực để thống nhất lịch
phiên toà trước khi xét xử phúc thẩm, nhằm chủ động chỉ đạo, điều hành
công việc giải quyết án. Chủ động mời Toà phúc thẩm hoặc trao đổi với Toà
phúc thẩm đưa ra họp trù bị những vụ án xét thấy cần thiết, nhằm đảm bảo
cho việc xét xử được đúng người, đúng tội đúng pháp luật…
Đối với các
trường hợp thấy cần thiết áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn
chặn đối với bị cáo, thì Viện phúc thẩm đề nghị Toà phúc thẩm ra quyết
định trước khi xét xử phúc thẩm.
Đối với các vụ
án quan trọng phức tạp, thì Viện phúc thẩm cần báo trước cho Toà phúc thẩm
danh sách những người tham gia tố tụng mà Viện phúc thẩm thấy họ cần phải
có mặt tại phiên toà để Toà phúc thẩm kịp thời triệu tập theo đúng thời
gian luật định.
Đối với các vụ
án rút toàn bộ kháng nghị bằng văn bản, thì trước khi mở phiên toà, Viện
phúc thẩm gửi quyết định rút kháng nghị cho Toà phúc thẩm, để Toà phúc
thẩm ra quyết định đình chỉ vụ án.
Chương IV
Mèi quan hÖ
trong néi bé ViÖn phóc thÈm
Điều 15:
Nguyên tắc làm việc.
1-Các Viện phúc
thẩm thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách, phát huy
nguyên tắc tập trung, dân chủ. Viện trưởng Viện phúc thẩm chịu trách nhiệm
trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao toàn bộ hoạt động của đơn
vị.
2- Quan hệ giữa
Viện trưởng và Phó Viện trưởng:
Viện trưởng
Viện phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 4, Phó Viện
trưởng Viện phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Điều
5 của Quy chế này. Khi có ý kiến khác nhau thì Viện trưởng báo cáo lãnh
đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp cần phải giải quyết
ngay thì Phó Viện trưởng phải chấp hành ý kiến của Viện trưởng, sau đó
Viện trưởng báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3- Quan hệ giữa
Viện trưởng, Phó Viện trưởng với các kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tối cao:
Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định
tại Điều 6 của quy chế này, chịu sự phân công của Viện trưởng Viện phúc
thẩm, khi có ý kiến khác với ý kiến của Viện trưởng thì Viện trưởng báo
cáo với Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp phải giải
quyết ngay thì phải chấp hành ý kiến của Viện trưởng, sau đó Viện trưởng
báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối với các
loại án thuộc lĩnh vực phụ trách của Phó Viện trưởng khi kiểm sát viên có
ý kiến khác với ý kiến của Phó Viện trưởng thì báo cáo Viện trưởng Viện
phúc thẩm quyết định. Trong trường hợp phải giải quyết ngay thì chấp hành
ý kiến của Phó Viện trưởng, sau đó Phó Viện trưởng báo cáo Viện trưởng.
Trong trường hợp không phải giải quyết ngay khi có ý kiến khác nhau giữa
Viện trưởng với Phó Viện trưởng, giữa Phó Viện trưởng và kiểm sát viên với
Viện trưởng, hoặc giữa Viện trưởng, Phó Viện trưởng với kiểm sát viên thì
báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
4- Quan hệ giữa
kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao với cán bộ, công chức nghiệp
vụ:
Cán bộ, công
chức nghiệp vụ chịu sự quản lý và chỉ đạo toàn diện của Viện trưởng Viện
phúc thẩm và chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo về nghiệp vụ của kiểm sát viên đối
với các vụ án do mình nghiên cứu. Kiểm sát viên phát hiện những sai sót
trong việc xây dựng hồ sơ kiểm sát xét xử phúc thẩm của cán bộ, công chức
nghiệp vụ thì yêu cầu điều chỉnh, bổ sung. Khi có ý kiến khác nhau thì báo
cáo Viện trưởng hoặc phó Viện trưởng Viện phúc thẩm xem xét, quyết định.
Điều
16: Chế độ sinh hoạt.
1- Họp định kỳ:
Sáu tháng, một
năm họp sơ kết và tổng kết công tác và thông qua nhiệm vụ, chương trình
công tác của đơn vị thời gian tới.
Mỗi tháng họp
một lần để nghiên cứu, quán triệt các văn bản pháp luật mới ban hành và
các hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2- Họp bất
thường
Khi thấy cần
thiết có những vụ án quan trọng, phức tạp trước khi xét xử phúc thẩm, Viện
trưởng triệu tập cuộc họp trong lãnh đạo, có một số kiểm sát viên tham gia
để báo cáo duyệt án và sau xét xử họp báo cáo kết quả xét xử.
Các báo cáo
kháng nghị, kiến nghị, thông báo, hướng dẫn rút kinh nghiệm, báo cáo giám
đốc, báo cáo chuyên đề cần có ý kiến của tập thể thì Viện trưởng triệu tập
họp để thông qua.
Điều 17:
Chế độ bảo mật nghiệp vụ và quản lý hồ sơ tài liệu.
- Hồ sơ vụ án
phải được quản lý và giao nhận một cách chặt chẽ qua từng khâu, không được
mang hồ sơ tài liệu về nhà riêng, ra đường phố nếu không phải vì công vụ.
- Tất cả cán
bộ, kiểm sát viên, nhân viên trong Viện không được tiếp xúc bàn bạc vụ án
với người không có trách nhiệm đối với vụ án, không được tiết lộ các tình
tiết của vụ án và chủ trương giải quyết vụ án.
- Các báo cáo
kiểm sát xét xử phúc thẩm chỉ gửi đến các cơ quan hữu quan trong ngành,
không gửi đến các cơ quan khác.
- Những công
văn tài liệu liên quan đến công tác quản lý chỉ đạo phải được chuyển ngay
đến Viện trưởng Viện phúc thẩm để xem xét xử lý, các cán bộ trong Viện
phúc thẩm có trách nhiệm xử lý theo sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện phúc
thẩm.
- Những công
văn tài liệu trước khi chuyển đi phải được cán bộ dự thảo kiểm tra lần
cuối cùng về nội dung và số lượng văn bản phát hành. Riêng các văn bản:
Báo cáo trình lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định rút
kháng nghị, quyết định kháng nghị phúc thẩm, quyết định trưng cầu giám
định, thông báo rút kinh nghiệm, kiến nghị và các văn bản quan trọng khác
phải được Viện trưởng Viện phúc thẩm duyệt trước khi ban hành.
Điều 18:
Chế độ đi công tác và quản lý lao động.
1- Gặp những vụ
án quan trọng, phức tạp mà xét thấy cần làm việc với cơ quan hữu quan ở
địa phương trước khi xét xử phúc thẩm, thì kiểm sát viên báo cáo Viện
trưởng Viện phúc thẩm quyết định.
2-
Những cán bộ làm ngoài giờ, làm vượt chỉ tiêu quy định được hưởng chế độ
chung do Nhà nước quy định.
3- Mọi cán bộ
trong Viện phúc thẩm phải chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, đảm bảo hiệu
quả, năng suất, chất lượng công tác. Nếu vì lý do việc riêng mà vắng mặt
tại cơ quan thì phải báo cáo với lãnh đạo và chỉ được nghỉ khi đã có phép.
Chương V
§iÒu kho¶n
cuèi cïng (thi hµnh)
Điều 19:
Khen thưởng và kỷ luật.
Cán bộ, công
chức trong đơn vị chấp hành tốt bản Quy chế này sẽ được khen thưởng theo
chính sách chế độ, làm trái hoặc không chấp hành sẽ bị xử lý kỷ luật theo
tính chất, mức độ của vi phạm.
Điều 20: Hiệu lực thi hành.
Bản Quy chế này
có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế quy chế số 03/QC-VKSXXPT
ngày 13/11/1998.
Điều 21: Trách nhiệm thi hành.
Vụ trưởng
Vụ tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – tài chính, Viện trưởng các Viện
phúc thẩm 1, 2, 3, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm
thi hành Quy chế này.
Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quyết định./.
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Đã
ký: Dương Thanh Biểu
|