thong bao
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 82 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2012)

  Hà NộiCloudy 14°C. - 17°C.
  TP HCMPartly Cloudy 24°C. - 33°C.
  Đà NẵngRain 20°C. - 23°C.


TRAO ĐỔI
Thư điện tử nội bộ
Diễn đàn điện tử (Forum)
Trao đổi trực tuyến (Chat)
Hỏi đáp (Q/A)
Tin báo tố giác tội phạm

All Vksndtc.gov.vn


CÁC ỨNG DỤNG CNTT


CÁC DỊCH VỤ
Nhận tin qua email


3239707

TÌM KIẾM VĂN BẢN PHÁP LUẬT


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỐI CAO
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------
------------------------------------
Số: 07/BC-VKSTC
Hà Nội, ngày 7 tháng 1  năm 2005
 
 
 
 
 BÁO CÁO
Tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân năm 2004
*****
 
          I- Công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ
         Năm 2004, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn ở trong nước và những tác động bất lợi từ ngoài nước, đất nước ta tiếp tục thu được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế-xã hội đều đạt và vượt kế hoạch. Tình hình chính trị ổn định; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tuy vậy, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp.
          - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia đã được phát hiện, khởi tố 51 vụ/272 bị can, tăng 14 vụ/108 bị can so với năm 2003.  Đáng chú ý, một số vụ phạm tội tổ chức trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân có quy mô lớn xảy ra ở một số tỉnh Tây Nguyên đã được khám phá, khởi tố. Trong số đối tượng bị bắt giữ, khởi tố có nhiều đối tượng trước đây đã tham gia tổ chức "Nhà nước Đêga", tổ chức phản động Fulrô, tham gia bàn thảo kế hoạch biểu tình, dụ dỗ, lôi kéo người khác biểu tình gây rối.
          - Các tội về tham nhũng đã được phát hiện, khởi tố 278 vụ/525 bị can, giảm  47vụ/87 bị can so với năm 2003, trong đó tội tham ô tài sản 212 vụ/314 bị can, giảm 36 vụ/104 bị can; tội nhận hối lộ 15 vụ/66 bị can, giảm 11 vụ/34 bị can; tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản 26 vụ/74 bị can, giảm 3 vụ, tăng 26 bị can so với năm 2003.
          Tuy việc phát hiện, khởi tố các tội phạm về tham nhũng giảm so với trước, song tính chất của nhiều vụ án rất nghiêm trọng. Đáng chú ý là các cơ quan chức năng đã khám phá, khởi tố một số vụ án tham nhũng lớn trong một số lĩnh vực mà từ trước đến nay rất khó phát hiện. Điển hình là một số vụ án xảy ra trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngành Dầu khí và trong quá trình phân bổ hạn ngạch (quota) xuất khẩu hàng dệt may ở Bộ Thương mại.
          - Tội phạm trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội vẫn diễn biến phức tạp, một số vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Các tội phạm liên quan đến tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm... vẫn diễn ra ở hầu khắp các địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Đáng chú ý là tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài qua đường biên giới phía Bắc và phía Tây Nam nước ta có xu hướng gia tăng.
Tình hình khởi tố một số loại tội như sau: tội giết người 1.399 vụ/1.973 bị can, giảm 17 vụ/185 bị can; tội hiếp dâm 431 vụ/627 bị can, giảm 48 vụ/97 bị can; tội hiếp dâm trẻ em 654 vụ/718 bị can, giảm 51 vụ/84 bị can; tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc 1.885 vụ/8.565 bị can, tăng 236 vụ/1.939 bị can; tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 5.352 vụ/5.439 bị can, tăng 356 vụ/399 bị can so với năm 2003.
          - Các tội phạm về ma tuý được phát hiện, khởi tố 9.082 vụ/11.771 bị can, giảm 1.058 vụ/1.305 bị can, trong đó tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý 8.864 vụ/11.514 bị can, giảm 962 vụ/1.112 bị can; tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 20 vụ/31 bị can, giảm 133 vụ/140 bị can; tội sử dụng trái phép chất ma tuý 144 vụ/150 bị can, giảm 6 vụ/13 bị can so với năm 2003.
Mặc dù số vụ và số bị can bị khởi tố về các tội phạm ma tuý giảm so với năm trước nhưng nhiều vụ lại có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Đáng chú ý, nhiều đường dây buôn bán, vận chuyển ma tuý với số lượng lớn có đông người tham gia từ nước ngoài vào Việt Nam để đưa đi nước thứ ba đã bị phát hiện. Nhiều tên tội phạm nguy hiểm đã bị bắt giữ, khởi tố để điều tra, xử lý.
         - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã được phát hiện, khởi tố 246 vụ/326 bị can, trong đó nhiều nhất là tội trốn khỏi nơi giam, giữ  (197 vụ/259 bị can, giảm 108 vụ/164 bị can) và tội không chấp hành án (20 vụ/25 bị can, giảm 14 vụ/10 bị can so với năm 2003).
         Thực hiện Chỉ thị số 07/2003/CT-VKSTC-VP ngày 30/12/2003 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2004, Viện kiểm sát các cấp đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Kết quả của các công tác kiểm sát đạt được như sau:
1- Về  thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự
-  Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự:
Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng việc quản lý và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm nhằm hạn chế việc bỏ lọt tội phạm. Cùng với các trường hợp khởi tố của Cơ quan điều tra, thông qua tiếp nhận, quản lý và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố 154 vụ án hình sự; trực tiếp khởi tố, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra 65 vụ án. Viện kiểm sát quân sự các cấp đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố 13 vụ án hình sự.
Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát các cấp với Cơ quan điều tra nên chất lượng bắt, giữ, khởi tố các vụ án hình sự thời gian qua đã được nâng lên. Năm 2004, toàn quốc có 45.205 người bị bắt, tạm giữ hình sự ( giảm 1.190 người so với năm 2003), trong đó bắt khẩn cấp 12.950 người, bắt quả tang 26.747 người, bắt truy nã, tự thú và đầu thú 5.508 người. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát các cấp đã giải quyết được 44.682 người, trong đó khởi tố 40.995 người, đạt 91,7% (tăng 1,3% so với năm 2003). Một số địa phương có tỷ lệ bắt, tạm giữ chuyển khởi tố cao là: Thành phố Hồ Chí Minh, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dương, Tây Ninh, Phú Yên, Bến Tre, Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Yên Bái, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tây, Bình Định, Long An...
 Viện kiểm sát các cấp phối hợp với các cơ quan tư pháp khác có những biện pháp đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án hình sự nên số vụ án Viện kiểm sát  đưa ra truy tố so với số vụ án phải giải quyết đạt tỷ lệ cao. Năm 2004, toàn ngành  thụ lý 65.169 vụ/ 98.461 bị can (giảm 1141 vụ/1161 bị can so với năm 2003); Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra 50.549 vụ/79.468 bị can, chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố 49.441 vụ/77.884 bị can. Đã giải quyết được 49.884 vụ/79.036 bị can trên tổng số 51.580 vụ/82.675 bị can, đạt 96,7% số vụ, 95,5% số bị can, trong đó, quyết định truy tố 49.182 vụ/77.505 bị can, đạt 98,5% số vụ, 98,6% số bị can. Viện kiểm sát quân sự các cấp phải xử lý là 345 vụ/558 bị can, đã giải quyết 323 vụ/512 bị can, trong đó quyết định truy tố 301 vụ/482 bị can, đạt 93,1% số vụ đã xử lý.
Do chất lượng thực hành quyền công tố có tiến bộ nên các trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội giảm so với cùng kỳ năm trước. Năm 2004, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát các cấp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với 289 bị can, giảm 67 bị can so với năm 2003 (Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra đối với 165  bị can, Viện kiểm sát các cấp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với 124 bị can). Qua thống kê, phân loại cho thấy, những trường hợp này phần lớn do bị can có hành vi vi phạm pháp luật nhưng qua điều tra xác minh mới xác định được hành vi của bị can chưa đến mức  truy cứu trách nhiệm hình sự; bị can chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc bị bệnh tâm thần thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang tổ chức các đoàn kiểm tra để kiểm tra những trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội này, làm rõ những trường hợp oan để thực hiện việc bồi thường theo quy định của pháp luật và xác định trách nhiệm của cá nhân, đơn vị trong việc làm oan để xử lý.
Một số địa phương đã không để xảy ra việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do bị can không phạm tội (ở cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát) là: Nam Định, Bạc Liêu, Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Hải Dương, Sơn La, yên Bái, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Đồng Nai, Hưng Yên, Hà Nam.
 Viện kiểm sát các cấp đã cùng Cơ quan điều tra, Toà án ở các địa phương xác định được 2.261 vụ án trọng điểm, đưa ra truy tố 2.125 vụ, đã xét xử 1.927 vụ.
Nhiều vụ án lớn về an ninh quốc gia, ma tuý đã được đưa ra truy tố, xét xử kịp thời, phục vụ yêu cầu chính trị địa phương như: Một số vụ phá hoại chính sách đoàn kết; phá rối an ninh và trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra ở các tỉnh Tây Nguyên; vụ Nguyễn Tiến Tuấn cùng các bị can khác phạm tội hoạt động gián điệp và lưu hành tiền giả ở Hà Tây; vụ Ngô Đức Minh cùng các bị can khác phạm tội mua bán, vận chuyển trái phép 36 kg hêrôin (103 bánh), 50 kg cần sa, 6.000 viên ma tuý tổng hợp; vụ Chung Quốc Minh và 21 bị can khác phạm tội mua bán trái phép 14.200 viên ma tuý tổng hợp; vụ Chu Đức Hải cùng 18 bị can khác phạm tội mua bán trái phép 19,5 kg hêrôin. Cả ba vụ ma tuý trên đều xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh.
          Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan tư pháp ở Trung ương tăng cường hơn việc đấu tranh chống tham nhũng; đã đưa ra truy tố, xét xử một số vụ án tham nhũng lớn như: Vụ Lã Thị Kim Oanh, nguyên Giám đốc Công ty Tiếp thị đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng các bị can khác phạm tội tham ô, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, tài sản của Nhà nước bị thiệt hại lên tới trên 150 tỷ đồng; vụ Ngô Thị Kim Chung, nguyên Giám đốc Chi nhánh Công ty Xuất nhập khẩu du lịch và đầu tư xây dựng Hà Nam tại Hà Nội cùng các bị can khác phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 19 tỷ đồng; vụ Vi Văn Niệm cùng 35 bị can, trong đó có 27 bị can nguyên là cán bộ Hải quan Lạng Sơn phạm tội nhận và đưa hối lộ... với số tiền trên 4 tỷ đồng.
 Đáng chú ý, năm 2004 một số vụ án tham nhũng lớn đã được khám phá, khởi tố điều tra để xử lý như: Vụ Lê Văn Thắng, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu, Bộ Thương mại đã cùng một số người trong cơ quan móc nối với các đối tượng bên ngoài tạo thành "đường dây" đưa và nhận hối lộ có quy mô lớn trong quá trình phân bổ hạn ngạch (quota) xuất khẩu hàng dệt may. Số tiền đưa và nhận hối lộ lên tới hàng trăm nghìn USD. Trong vụ án này có nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Vụ Nguyễn Quang Thường, nguyên Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam cùng các bị can khác (gồm 8 bị can) phạm tội tham ô tài sản và cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với thủ đoạn lập hợp đồng, chứng từ giả về mua bán vật tư, thiết bị để thanh quyết toán rồi rút tiền chia nhau, số tiền Nguyễn Quang Thường và các bị can trong vụ án chiếm đoạt lên tới trên 3 triệu USD. Vụ Tham ô tài sản, Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến việc xây dựng đường ống và kho cảng Thị Vải. Đến nay, các cơ quan chức năng đã khởi tố 15 bị can, chủ yếu là cán bộ có chức vụ thuộc Công ty Chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí và Công ty Tư vấn, thiết kế xây dựng dầu khí thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam. Đây là vụ án gây thất thoát lớn tiền vốn đầu tư của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng, chủ đầu tư đã buông lỏng quản lý, không giám sát chặt chẽ tổng thầu và các thầu phụ, để xảy ra nhiều vi phạm, từ khâu thiết kế đến thi công xây dựng nên đã gây sự cố lún móng. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã phải chi 6,5 tỷ đồng cho việc khắc phục sự cố lún các gối đỡ đường ống công nghệ nhưng không khắc phục được, đã phải lập dự án chi tới 60 tỷ đồng để khắc phục sự cố cho toàn bộ công trình, làm thời gian thi công kéo dài thêm 24 tháng, tăng chi phí giám sát lên 3,8 triệu USD, tăng chi phí thuê đường ống tạm và tàu chứa sản phẩm hết 11,2 triệu USD.
 Thông qua việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với hai vụ án xảy ra trong lĩnh vực đầu tư – xây dựng cơ bản của ngành Dầu khí, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan rà soát lại hoạt động của các công ty nước ngoài tại Việt Nam,  tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu ngành Dầu khí theo Pháp lệnh Công chức và Pháp lệnh Chống tham nhũng. Kiến nghị này đã được Thủ tướng Chính phủ chấp nhận và Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
 Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đang kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố đối với một số vụ án lớn về tham nhũng trong lĩnh vực xăng dầu xảy ra ở Công ty Xuất nhập khẩu vật tư đường biển thuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam và ở Công ty Xăng dầu Hàng không. Vụ Trần thế Hùng, thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Phát móc nối với Nguyễn Đình Lợi, Lê Hồng Phong và một số cán bộ của Công ty xuất nhập khẩu vật tư đường biển thuộc Tổng Công ty hàng hải Việt Nam tạm nhập 30.464 tấn xăng dầu trị giá 5,2 triệu USD để tái xuất nhưng không tái xuất mà giữ lại tiêu thụ ở Việt Nam để kiếm lời bất chính, gây thất thu 79 tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu. Liên quan đến việc nhập khẩu xăng dầu là việc đưa và nhận hối lộ giữa Trần Thế Hùng và một số cán bộ Hải quan với số tiền hối lộ lên tới hàng tỷ đồng.
 Năm 2004, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục xét xử sơ thẩm đối với 56.259 vụ/89.999 bị cáo, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà đối với 48.974 vụ/76.562 bị cáo; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 15.119 vụ/21.541 bị cáo, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà 13.051 vụ/18.840 bị cáo; thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 247 vụ/303 bị cáo, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà đối với 219 vụ/272 bị cáo. Viện kiểm sát quân sự các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm đối với 453 vụ/654 bị cáo, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà đối với 330 vụ/525 bị cáo; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm đối với 77 vụ/114 bị cáo, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà đối với 66 vụ/98 bị cáo; thụ lý và thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà theo thủ tục giám đốc thẩm đối với 1 vụ/1 bị cáo.
          Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố nên số lượng các bị can Viện kiểm sát truy tố không đúng đã giảm nhiều. Năm 2004, Toà án xét xử theo thủ tục sơ thẩm tuyên 37 bị cáo không phạm tội (cấp huyện 25, cấp tỉnh 12), Viện kiểm sát đã kháng nghị theo hướng có tội đối với 36 bị cáo. Đến nay, Toà án đã xét xử theo thủ tục phúc thẩm đối với 14 bị cáo, chấp nhận kháng nghị theo hướng có tội, huỷ án để điều tra, xét xử lại đối với 7 bị cáo, y án sơ thẩm 7 bị cáo. Trong số các vụ án Toà án y án sơ thẩm, Viện kiểm sát tiếp tục xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với 5 bị cáo.
Toà án xét xử theo thủ tục phúc thẩm tuyên 4 bị cáo không phạm tội (cấp tỉnh 3, Toà án tối cao 1) và xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm tuyên 1 bị cáo không phạm tội. Những trường hợp này Toà án đã xét xử đúng nên Viện kiểm sát không tiếp tục kháng nghị. Viện kiểm sát các cấp đang tổ chức kiểm điểm trách nhiệm đối với những tập thể, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết các vụ án này
          Cùng với việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm hoạt động của các cơ quan tư pháp theo đúng các quy định của pháp luật.
         Quakiểm sát việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát các cấp đã quyết định huỷ bỏ 41 quyết định khởi tố vụ án, 18 quyết định khởi tố bị can và 31 quyết định không khởi tố vụ án không đúng của Cơ quan điều tra; không phê chuẩn bắt khẩn cấp 77 trường hợp; không phê chuẩn gia hạn tạm giữ 77 trường hợp; không phê chuẩn bắt tạm giam 173 trường hợp; không phê chuẩn tạm giam 156 trường hợp; không gia hạn tạm giam 24 trường hợp.
Toàn ngành đã chú trọng tập hợp vi phạm trong hoạt động điều tra để kiến nghị yêu cầu khắc phục và yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra. Một số vi phạm thường xảy ra trong hoạt động điều tra đã được kiến nghị yêu cầu khắc phục như vi phạm trong việc bắt giữ người; thu giữ, kê biên, xử lý tang vật; thu thập chứng cứ; để quá thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam. Thực hiện tốt công tác này là Viện kiểm sát nhân dân các địa phương: Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Bình Thuận, Gia Lai, Phú Yên... Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã tập hợp một số vi phạm trong hoạt động điều tra án hình sự của Cơ quan điều tra Bộ Công an để kiến nghị yêu cầu khắc phục (văn bản số 3451/VKSTC-V1 ngày 22/12/2003).
         Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát các cấp kịp thời kháng nghị đối với các bản án có vi phạm pháp luật. Năm 2004, Viện kiểm sát các cấp đã kháng nghị 1.022 vụ án theo thủ tục phúc thẩm, 122 vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Toà án đã xét xử 808 vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chấp nhận kháng nghị 605 vụ. Trong số các vụ án Toà án không chấp nhận kháng nghị, Viện kiểm sát tiếp tục có báo cáo đề nghị cấp kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 80 vụ. Toà án đã xét xử 103 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, chấp nhận kháng nghị 90 vụ. Trong số các vụ án Toà án không chấp nhận kháng nghị, Viện kiểm sát tiếp tục kháng nghị 2 vụ. Riêng số kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Toà án đã xét xử là 29 vụ, chấp nhận kháng nghị 24 vụ.
Một số đơn vị có tỷ lệ kháng nghị được Toà án chấp nhận cao là Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên, Nam Định, Sóc Trăng, Nghệ An…
Cùng với việc kháng nghị đối với các vụ án có vi phạm pháp luật, nhiều đơn vị cũng chú trọng phát hiện các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự của Toà án để kiến nghị yêu cầu khắc phục và ra thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ. Điển hình là các đơn vị: Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự; các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh; Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hải Phòng, Cà Mau, Quảng Ninh...
 - Công tác điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận 403 đơn tố giác và tin báo tội phạm về 359 vụ việc (tăng 5% vụ, việc so với năm 2003). Đã chuyển cho các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết theo đơn và trực tiếp kiểm tra, xác minh 44 vụ, việc thuộc thẩm quyền, ra 8 quyết định khởi tố vụ án hình sự, 13 quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
 Năm 2004, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thụ lý điều tra 13 vụ/16 bị can, trong đó có 3 vụ/5 bị can từ năm 2003 chuyển sang. Đã kết thúc điều tra, đề nghị truy tố 7 vụ/ 10 bị can về một số tội như: Dùng nhục hình; bắt giữ người trái pháp luật; tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ; thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn; ra quyết định trái pháp luật; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng... Trong số các bị can bị khởi tố điều tra có 7 bị can nguyên là Điều tra viên, cán bộ công an; 2 bị can nguyên là Kiểm sát viên, cán bộ kiểm sát; 1 bị can nguyên là Thẩm phán; 5 bị can nguyên là Chấp hành viên, cán bộ thi hành án.
Các đơn vị chức năng thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kiểm sát chặt chẽ theo đúng các quy định của pháp luật đối với các vụ án hình sự do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra.
Để triển khai thi hành BLTTHS, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan tư pháp ở Trung ương chuẩn bị tài liệu, tham gia tập huấn Bộ luật cho lãnh đạo các cơ quan tư pháp ở Trung ương và các tỉnh, thành phố, trong đó Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Chỉ thị chỉ đạo việc triển khai thi hành BLTTHS trong ngành Kiểm sát nhân dân; tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ luật này cho Lãnh đạo Viện và Trưởng phòng các phòng nghiệp vụ về hình sự của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương.
Thực hiện Nghị quyết số 509/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 29/4/2004 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thi hành BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo toàn ngành phối hợp với các cơ quan tư pháp khác triển khai việc kiểm tra, rà soát và có kế hoạch giải quyết các vụ án hình sự trước khi thi hành BLTTHS mới; phối hợp với Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao thành lập 3 đoàn kiểm tra liên ngành, trực tiếp kiểm tra tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Qua kiểm tra đã phối hợp giải quyết kịp thời những vụ việc mà các cơ quan tố tụng đang thụ lý.
Đã phối hợp với các cơ quan tư pháp ở Trung ương trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết giao thẩm quyền xét xử mới theo quy định của BLTTHS cho 107 Toà án nhân dân quận, huyện thị xã thuộc tỉnh và Toà án quân sự khu vực.
         Đã kiểm tra và chỉ đạo Viện kiểm sát các địa phương bố trí, bổ sung cán bộ, Kiểm sát viên và kinh phí, trang thiết bị, phương tiện làm việc để các Viện kiểm sát cấp huyện được tăng thẩm quyền có điều kiện thực hiện thẩm quyền mới.
Để việc thực hiện BLTTHS mới được thống nhất trong toàn ngành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành một số Quy chế nghiệp vụ (tạm thời) như: Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự;  Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; Quy chế kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; Quy chế kiểm sát thi hành án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đang phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành BLTTHS.
Sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 388 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra,Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ quốc phòng, Bộ Tài chính xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết trên.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổng rà soát, nắm số vụ có dấu hiệu bị oan từ các năm trước theo quy định của Nghị quyết 388 để chủ động xem xét giải quyết việc bồi thường khi có yêu cầu. Đến ngày 30/11/2004, Viện kiểm sát các cấp đã giải quyết bồi thường cho 6 người; thương lượng xong và đang hoàn tất các thủ tục bồi thường cho 10 người. Một số trường hợp khác đang được xem xét giải quyết.  Đã có 12 Viện kiểm sát  tỉnh, thành phố tiến hành kiểm điểm cán bộ có liên quan đến việc làm oan là Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Cà Mau, Thái Nguyên, Bạc Liêu, Hà Tây, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Cao Bằng, Ninh Thuận, Tây Ninh, Cần Thơ, Lạng Sơn và thành phố Hồ Chí Minh.
         Quá trình thực hiện Nghị quyết 388 cũng đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang phối hợp với các cơ quan hữu quan bàn biện pháp khắc phục và hướng dẫn các địa phương thực hiện thống nhất, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm, gây tâm lý bức xúc cho người bị oan.
 - Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù:
 Thực hiện Chỉ thị 07 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát các cấp đã triển khai nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù. Viện kiểm sát hai cấp đã trực tiếp kiểm sát 6.110 lần nhà tạm giữ, có văn bản kết luận, ra 130 kháng nghị, 1.219 kiến nghị yêu cầu cơ quan quản lý nhà tạm giữ khắc phục vi phạm. Viện kiểm sát các cấp đã kiểm sát trại tạm giam 2.981 lần, ra 103 kháng nghị, 763 kiến nghị yêu cầu cơ quan quản lý trại tạm giam khắc phục vi phạm.
 Qua kiểm sát cho thấy, việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù thời gian qua có tiến bộ. Tuy nhiên, một số nơi vẫn còn có việc giam giữ chung ngư­ời chư­a thành niên với người đã thành niên, người bị tạm giữ với người bị tạm giam. Có nơi quản lý còn có những sơ hở để người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn. Số lượng người phạm tội nghiện ma tuý, nhiễm HIV bị đưa vào các trại tạm giam, trại giam nhiều, gây không ít khó khăn cho công tác tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục phạm nhân. Số lượng phạm nhân chết trong các trại tạm giam, trại giam do bị AIDS ngày càng tăng. Đây là vấn đề bức xúc hiện nay. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã báo cáo tình trạng này đến các cơ quan có thẩm quyền và cùng với các cơ quan hữu quan phối hợp bàn các biện pháp giải quyết.
          Trong các lần kiểm sát nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam, Viện kiểm sát các cấp đều có kết luận bằng văn bản, xác định rõ vi phạm của các cơ quan có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý  và giáo dục người chấp hành án phạt tù và kháng nghị hoặc kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm. Các địa phương làm tốt công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam là Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh: Quảng Ninh, Nghệ An, Tây Ninh, Khánh Hoà, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Gia Lai, Long An…
 Để hướng dẫn thực hiện Nghị định 98/CP của Chính phủ bổ sung chế độ tạm giữ, tạm giam và cho phép để phạm nhân thi hành án tại nhà tạm giữ cấp huyện, ngày 29/4/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 07 hướng dẫn thực hiện một số quy định về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân chấp hành hình phạt tù tại nhà tạm giữ cấp huyện.
Bên cạnh những tiến bộ trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, một số Viện kiểm sát địa phương chưa thực hiện nghiêm túc việc kiểm sát thường kỳ nhà tạm giữ, trại tạm giam; việc phát hiện các vi phạm trong việc tạm giữ, tạm giam và thực hiện các chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù để kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục chưa được quan tâm đúng mức.
Nhìn chung, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của ngành trong năm qua đã có những tiến bộ. Viện kiểm sát các cấp đã chủ động phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết được nhiều vụ án lớn, trọng điểm, phức tạp, nhất là một số vụ tham nhũng lớn, được dư luận đồng tình ủng hộ. Chất lượng bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố được nâng cao hơn trước. Tiến độ giải quyết án được đẩy nhanh.
Tuy nhiên, so với chức năng, nhiệm vụ được giao, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát các cấp còn nhiều yếu kém. Vẫn còn xảy ra một số trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố oan, sai. Chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh chống tội phạm, nhất là đấu tranh chống các tội phạm về tham nhũng chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số địa phương còn để xảy ra tình trạng chậm trong việc gia hạn tạm giam hoặc trả tự do đối với người bị tạm giam khi thời hạn tạm giam đã hết dẫn đến việc quá hạn tạm giam. Trong số 57.531 người bị tạm giam được giải quyết, các cơ quan tiến hành tố tụng đã để quá hạn  435 người, trong đó thuộc trách nhiệm của cơ quan điều tra là 53 người, của Viện kiểm sát là 77 người, của Toà án là 305 người (Toà án cấp sơ thẩm: 103, Toà án cấp phúc thẩm: 202). Trong số 21.002 người còn tạm giam tính đến thời điểm 30/11/2004, còn 262 người bị tạm giam quá hạn (thuộc trách nhiệm của cơ quan điều tra 57, của Viện kiểm sát 19, của Toà án cấp sơ thẩm 183, Toà án cấp phúc thẩm 3). Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà của một bộ phận Kiểm sát viên còn bất cập. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều. Năm 2004, Viện kiểm sát trả hồ sơ để  cơ quan điều tra điều tra bổ sung 3.162 vụ, Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung 2.517 vụ. Một số Viện kiểm sát nhân dân có số lượng vụ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều là Viện kiểm sát nhân dân các địa phương: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Phước, Bình Dương, Đắk Lắk, Đồng Nai, Cà Mau,  Khánh Hoà…
2- Về kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
Năm qua, tình hình tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng nhiều. Trước tình hình đó, ngành Kiểm sát đã sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, tăng cường kiểm sát những khâu trọng yếu, nhất là những vụ việc Toà án đưa ra xét xử.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao giải quyết dứt điểm một số vụ án dân sự phức tạp, kéo dài.
Viện kiểm sát các cấp đã chủ động tiến hành kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự; đã kiểm sát việc lập hồ sơ 106.062 vụ án sơ thẩm dân sự, hôn nhân và gia đình trong tổng số 134.558 vụ án Toà án các cấp thụ lý; yêu cầu Tòa án xác minh bổ sung 2.998 vụ, tự xác minh bổ sung 567 vụ; đã ra 153 kháng nghị đối với quyết định đình chỉ vụ án của Toà án; cử Kiểm sát viên tham gia phiên toà đối với 28.654 vụ án trong tổng số 30.393 vụ Toà án đưa ra xét xử, đạt 94,2%. Qua đó đã kháng nghị 351 vụ để Toà án xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Toàn ngành đã kiểm sát việc lập hồ sơ 13.137 vụ án phúc thẩm dân sự trong tổng số 15.116 vụ Toà án thụ lý; yêu cầu Toà án xác minh bổ sung 326 vụ, tự xác minh bổ sung 197 vụ. Viện kiểm sát các cấp đã cử Kiểm sát viên tham gia phiên toà 10.706 vụ trong tổng số 11.511 vụ Toà án đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm, trong đó có 271 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị, chấp nhận kháng nghị 230 vụ, đạt 84,8%.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm 475 vụ án, trong đó có có 156 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị, Toà án xét xử, chấp nhận kháng nghị 137 vụ, đạt 87,8%.
Một số Viện kiểm sát địa phương có số kháng nghị án dân sự được Toà án chấp nhận chiếm tỷ lệ cao là: Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Nghệ An, Hưng Yên, Bình Định, Long An…
Để nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết các vụ án dân sự, một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương đã phối hợp với Toà án tổ chức hội nghị liên ngành  để đánh giá kết quả 1 năm thực hiện quan hệ phối hợp giữa 2 ngành trong việc giải quyết các vụ án dân sự và bàn biện pháp tăng cường quan hệ phối hợp trong thời gian tới.
Về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật: Viện kiểm sát các cấp kiểm sát việc lập hồ sơ của Toà án 2.587 vụ trên tổng số 2979 vụ theo thủ tục sơ thẩm do Toà án thụ lý; yêu cầu Toà án xác minh bổ sung 111 vụ; cử Kiểm sát viên tham gia phiên toà  814 vụ trên tổng số 856 vụ Toà án xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 23 vụ. Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố đã kiểm sát việc lập hồ sơ 535 vụ trên tổng số 960 vụ Toà án thụ lý theo thủ tục phúc thẩm; cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát xét xử tại phiên toà 473 vụ trên tổng số 624 Toà án xét xử theo thủ tục phúc thẩm, trong đó có 11 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị. Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 40 vụ án, trong đó có 24 vụ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị, chấp nhận kháng nghị 15 vụ.  
Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật, nhiều Viện kiểm sát nhân dân địa phương đã chú trọng tổng hợp vi phạm của Tòa án trong để kiến nghị khắc phục, như vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án, nhiều vụ việc giải quyết kéo dài quá hạn luật định; việc gửi bản án cho Viện kiểm sát để thực hiện chức năng kiểm sát còn chậm so với quy định... Thực hiện tốt công tác này là Viện kiểm sát các địa phương: Thái Bình, Gia Lai, Tây Ninh, Phú Yên…
Để chuẩn bị triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2005, ngày 22/12/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Chỉ thị số 10/2004/CT-VKSTC về việc triển khai thi hành BLTTDS trong ngành Kiểm sát nhân dân. Đã tổ chức biên soạn tài liệu và tổ chức tập huấn BLTTDS cho Kiểm sát viên, cán bộ trong ngành, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã tham gia Ban chỉ đạo thực hiện thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định của BLTTDS.
Nhìn chung, chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật của ngành Kiểm sát năm qua được nâng cao hơn. Việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới được tăng cường. Công tác kháng nghị, nhất là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có chuyển biến tích cực hơn trước.
Tuy nhiên, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật của Viện kiểm sát các cấp vẫn còn nhiều hạn chế. Một số địa phương án tồn đọng còn nhiều. Việc phát hiện vi phạm để kiến nghị với Tòa án khắc phục cũng như ban hành các kháng nghị còn ít so với số án bị huỷ, sửa. Chất lượng kiểm sát xét xử, tham gia tranh luận tại phiên tòa của Kiểm sát viên các cấp chưa cao. Việc giải quyết các yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm còn chậm, có trường hợp trả lời không đúng dẫn đến khiếu nại kéo dài.
3- Về kiểm sát thi hành án
 Năm 2004, công tác kiểm sát thi hành án hình sự có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả tốt. Viện kiểm sát các cấp đang phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành rà soát để nắm chắc số người bị kết án phạt tù nhưng chưa thi hành; kiểm sát chặt chẽ các trường hợp hoãn thi hành án, hưởng thời hiệu không phải thi hành án. Qua rà soát cho thấy, đến ngày 30/11/2004, còn  5.907 bị án phạt tù chưa thi hành, trong đó có 2.446 người trốn thi hành án (đã truy nã 1.953 người, chưa truy nã 492 người). Viện kiểm sát các cấp đã chủ động phối hợp với các ngành hữu quan có biện pháp cụ thể giải quyết đối với các trường hợp này.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã tiến hành 1.583 cuộc kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án treo, cải tạo không giam giữ; đã yêu cầu Toà án chuyển 646 bản án để thi hành án, yêu cầu Toà án ra 847 quyết định thi hành án, 77 quyết định hoãn, 3 quyết định miễn, 24 quyết định cho hưởng thời hiệu thi hành án; yêu cầu cơ quan công an ra quyết định truy nã đối với 141 trường hợp trốn thi hành án, 827 quyết định áp giải bị án. Qua công tác kiểm sát thi hành án, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành  422 kháng nghị  yêu cầu các cơ quan, tổ chức liên quan đến việc thi hành án khắc phục vi phạm trong việc thi hành án hình sự.
Ngày 15/4/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 03/2004/CT về tăng cường công tác kiểm sát thi hành án hình sự trong thời gian tới nhằm thống nhất nhận thức về vị trí công tác kiểm sát thi hành án hình sự, đồng thời làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và chấp hành án phạt tù với kiểm sát việc thi hành án, nhất là trong việc tham gia xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt của Viện kiểm sát các cấp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác kiểm sát thi hành án hình sự trong toàn ngành.
           Năm 2004, Viện kiểm sát các địa phương đã tiếp nhận 37.045 trường hợp do cơ quan Công an chuyển đến để xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Qua thẩm định đã kiến nghị đưa ra khỏi danh sách xét giảm 239 trường hợp vì không đủ điều kiện.
           Thực hiện Quyết định của Chủ tịch nước về công tác đặc xá năm 2004 - 2005, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã cử cán bộ tham gia Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương để thẩm định, đề nghị Chủ tịch nước ra quyết định đặc xá cho phạm nhân đợt 2/9/2004 và đã được Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho 8.623 phạm nhân. Các trường hợp được đặc xá đều bảo đảm các điều kiện theo đúng quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hoàn thành báo cáo tổng kết 10 năm công tác kiểm sát thi hành án hình sự.
Công tác kiểm sát thi hành án dân sự của Viện kiểm sát các cấp có những chuyển biến tích cực. Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng kiểm sát các trường hợp có điều kiện và không có điều kiện thi hành án để yêu cầu thi hành kịp thời các bản án có điều kiện thi hành, đồng thời tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động cưỡng chế thi hành án, cho hoãn thi hành án, thu chi tiền thi hành án. Năm qua, Viện kiểm sát các cấp đã có 696 lần kiểm sát trực tiếp cơ quan thi hành án cùng cấp, 724 lần kiểm sát trực tiếp cơ quan thi hành án cấp dưới; kiểm sát trực tiếp 4.436 việc cưỡng chế, 866 việc bán đấu giá tài sản, 8.776 việc tiêu huỷ vật chứng. Thông qua công tác kiểm sát thi hành án, theo báo cáo của các Viện kiểm sát địa phương, Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện 511 trường hợp Toà án chuyển bản án chậm; 350 trường hợp cơ quan thi hành án chậm ra quyết định thi hành án; 1.761 trường hợp có điều kiện thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế; 418 quyết định thi hành án, 4 quyết định hoãn thi hành án, 24 quyết định đình chỉ thi hành án, 25 quyết định cưỡng chế thi hành án vi phạm pháp luật…. Viện kiểm sát các cấp đã ban hành 437 kháng nghị yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc thi hành án dân sự khắc phục vi phạm.
Thực hiện tốt công tác kiểm sát thi hành án là Viện kiểm sát các địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên – Huế, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Dương, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Quảng Ngãi.
Hạn chế của công tác thi hành án là cho đến nay, số lượng các vụ án tồn đọng, kể cả án hình sự và án dân sự, chưa được thi hành còn nhiều. Nhiều vi phạm đã được phát hiện nhưng giải quyết còn chậm. Tình hình này có trách nhiệm của nhiều cơ quan, trong đó có phần trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp.
           4- Về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp
 Năm 2004, tình hình khiếu nại, tố cáo tuy có giảm so với năm 2003 nhưng còn diễn biến phức tạp, có lúc, có nơi xảy ra gay gắt với đông người tham gia. Các khiếu nại, tố cáo tập trung trong việc giải phóng mặt bằng, tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, song cũng có nhiều việc do giải quyết các vụ án hình sự, dân sự của các cơ quan tư pháp chưa thấu đáo. Trước tình hình đó, toàn ngành đã chấn chỉnh công tác tiếp công dân, tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị để phục vụ cho việc tiếp công dân, thực hiện nghiêm túc các quy định về trách nhiệm, mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị trong ngành về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Do vậy, chất lượng giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đã được nâng lên.
Toàn ngành đã tiếp 25.340 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, trong đó Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp trực tiếp tiếp 3.782 lượt công dân, tăng 6,9% lượt người so với năm 2003. Đã tiếp nhận 59.943 đơn khiếu nại, tố cáo và kiến nghị phản ảnh có liên quan đến khiếu nại, tố cáo của công dân, tăng 17,7% so với năm 2003, trong đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân là 18.288 đơn về 13.973 vụ, việc; đã giải quyết  12.376 vụ, việc, đạt tỷ lệ 88,5% số vụ việc phải giải quyết.
          Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã tiếp nhận 1.138 đơn do các cơ quan thuộc Trung ương Đảng, các cơ quan thuộc Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các cơ quan báo chí chuyển đến, trong đó thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát là 1.031 đơn; đã giải quyết được 583 đơn, đạt 56,5%, còn  448 đơn đang được xem xét giải quyết.
 Viện kiểm sát các địa phương đã chủ động tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp cùng cấp. Theo báo cáo của  Viện kiểm sát các địa phương, đã có 42 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của 65 cơ quan tư pháp cấp tỉnh, 450 cơ quan tư pháp cấp huyện. Kết thúc kiểm sát đã ban hành 512 kháng nghị, kiến nghị yêu cầu các cơ quan sửa chữa, khắc phục vi phạm. Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân các địa phương còn yêu cầu 53 cơ quan tư pháp tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân.
Những đơn vị thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Hà Tây, Hải Phòng, Lâm Đồng, Quảng Nam, Sóc Trăng, Sơn La, Thanh Hoá, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của ngành còn khuyết điểm, tồn tại là nhiều đơn giải quyết còn chậm, có đơn giải quyết chưa chính xác nên để công dân phải khiếu nại nhiều lần.
5- Về công tác thống kê tội phạm
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ quốc phòng triển khai công tác thống kê tội phạm theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; thành lập Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện đề án thống kê hình sự - thống kê tội phạm liên ngành. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình lãnh đạo liên ngành ở Trung ư­ơng dự thảo Thông tư­ liên tịch về vấn đề này. Hiện đang được các ngành xem xét để ký trong thời gian tới. Với trách nhiệm là cơ quan thực hiện thống kê tội phạm, trong khi chờ Thông t­ư liên tịch, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai việc thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố và giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự để thực hiện thống nhất trong ngành. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị tập huấn, phát hành các biểu mẫu thống kê mới và triển khai công tác thống kê trong toàn ngành để thực hiện thống nhất từ 1/10/2004.
II- Công tác xây dựng ngành
1-    Công tác tổ chức, cán bộ
          Đã kiện toàn bộ máy làm việc ở Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội, kịp thời thành lập bộ máy và bố trí cán bộ cho Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh mới được chia tách (Điện Biên, Lai Châu, Đắk Lắk, Đắc Nông, Cần Thơ, Hậu Giang).
         Trước yêu cầu nhiệm vụ mới và thực tiễn đòi hỏi,  Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định cho tăng số lượng biên chế Kiểm  sát viên, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp  năm 2004 và năm 2005. Theo đó, tổng biên chế toàn ngành là 11.847 người, tăng 2.347 người so với chỉ tiêu biên chế được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định năm 1997, trong đó được tăng 845 Kiểm sát viên cấp huyện, 210 Kiểm sát viên cấp tỉnh, 6 Điều tra viên cao cấp, giữ nguyên 170 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao như hiện nay. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quy định biên chế, cơ cấu cán bộ lãnh đạo quản lý, Kiểm sát viên và công chức khác cho từng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và từng Viện kiểm sát địa phương. Đồng thời, quy định rõ việc tuyển dụng và quản lý cán bộ theo một quy trình chặt chẽ, thống nhất.
          Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện nghiêm túc việc tổng rà soát, đánh giá, phân loại đối với đội ngũ Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ hiện có. Đã ban hành các Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trong ngành và đang tiến hành các thủ tục bổ nhiệm mới và bổ nhiệm lại Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo quy định của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
         Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các địa phương đã thực hiện xong việc lập quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý. Việc luân chuyển cán bộ theo Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị tiếp tục được thực hiện ở Viện kiểm sát các cấp.
Toàn ngành đã tổ chức các lớp hoàn chỉnh trình độ cử  nhân luật cho 989 cán bộ trong ngành; tiếp tục đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị cho 110 cán bộ;  tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý, chỉ đạo điều hành chuyên ngành cho 568 cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; tổ chức bế giảng lớp đào tạo Kiểm sát viên cho 227 học viên và tại Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và Trường Cao đẳng kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh; mở lớp đào tạo tin học cho 242 cán bộ của các Viện kiểm sát cấp huyện. Ngoài ra, còn cử 18 cán bộ tham gia lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước tại Học viện Hành chính. Đang thực hiện chủ trương sắp xếp lại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát. Phối hợp với Học viện Tư pháp tiến hành xây dựng chương trình đào tạo Kiểm sát viên và đã tổ chức lớp đào tạo Kiểm sát viên cho 46 cán bộ của Viện kiểm sát quân sự Trung ương. Đang tiến hành xây dựng chương trình và nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành theo yêu cầu của cải cách tư pháp từ 2005 đến 2010.
          Thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế, Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
         Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, công chức trong ngành được tăng cường. Số cán bộ vi phạm giảm nhiều. Năm 2004, toàn ngành phát hiện có 34 cán bộ vi phạm kỷ luật, giảm 30 người so với năm 2003, đã quyết định xử lý kỷ luật 34 người (100%).
Nhìn chung, công tác tổ chức cán bộ năm qua đã triển khai kịp thời các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội, nhất là các Nghị quyết về cải cách tư pháp.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác tổ chức, cán bộ của ngành còn một số thiếu sót: Công tác xây dựng lực lượng còn có mặt hạn chế. Chất lượng đội ngũ cán bộ của ngành hiện nay chưa theo kịp với tiến trình cải cách tư pháp. Một số nhiệm vụ về tổ chức, cán bộ triển khai còn chậm. Việc quản lý cán bộ ở một số Viện kiểm sát địa phương còn chưa chặt chẽ. Một bộ phận cán bộ, công chức thiếu ý chí phấn đấu rèn luyện dẫn đến vi phạm kỷ luật nghiệp vụ và vi phạm pháp luật.
2- Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành
Thực hiện Chỉ thị 07 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác năm 2004, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các Quy chế công tác và Quy chế phối hợp trong ngành.
 Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đang chủ trì xây dựng Thông tư  liên tịch về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Thanh tra nhà nước trong việc phát hiện tội phạm và xử lý các vụ phạm tội mà cơ quan Thanh tra kiến nghị khởi tố.
Đã tổ chức giao ban định kỳ với các Viện kiểm sát vùng Tây Nam bộ và các Viện kiểm sát khu vực Tây Nguyên để kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại các địa phương này.
Việc chấp hành Quy chế 14/QĐ về thông tin, báo cáo, quản lý công tác của Viện kiểm sát các cấp có tiến bộ. Nhiều Viện kiểm sát đã thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, Quy chế phối hợp giữa các đơn vị trong ngành, đảm bảo chế độ tập trung thống nhất và kỷ luật nghiệp vụ. Công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới được chú trọng hơn. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã thực hiện nghiêm túc việc rà soát, kiểm tra thụ lý án các loại theo chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trên cơ sở đó, một số Viện kiểm sát địa phương đã phát hiện việc bỏ sót án, đã khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh cán bộ có vi phạm.
Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, từ cuối năm 2004, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã cử các đoàn kiểm tra do các đồng chí Lãnh đạo Viện và Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc làm trưởng đoàn để kiểm tra các trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội, các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tại Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục xây dựng đề án "Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2003-2005" và cùng các ngành hữu quan xúc tiến xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn tạm thời về thống kê hình sự - thống kê tội phạm liên ngành.
Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành còn một số hạn chế, thiếu sót. Việc theo dõi, quản lý, chỉ đạo, kiểm tra của một số đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với các Viện kiểm sát địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc phối hợp giữa các đơn vị chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan ở Trung ương để ra các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực còn chậm. Một số đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố chưa thực hiện đầy đủ các quy định về chế độ thông tin, báo cáo, quản lý công tác của ngành.
3. Công tác thanh tra
Ban Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền 38 đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ trong ngành; đã giải quyết, có kết luận và trả lời bằng văn bản 36 đơn, đạt 94,7%, còn lại 2 đơn đang xem xét giải quyết. Kết luận kiểm tra đã làm rõ các sai phạm của một số đơn vị về nghiệp vụ kiểm sát, về quản lý tài chính, tài sản. Qua đó đã kiến nghị xử lý một số cán bộ có vi phạm và thu hồi phần tài sản bị thất thoát.
Ban Thanh tra phối hợp với Vụ Tổ chức, cán bộ tiến hành kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ tại 8 Viện kiểm sát nhân dân địa phương và một số đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Kết thúc kiểm tra đều có kết luận bằng văn bản, chỉ rõ những ưu, khuyết điểm của các đơn vị, qua đó phát huy được tính dân chủ trong ngành, hạn chế những vi phạm có thể xảy ra. Đã tổng hợp kết quả kiểm tra và tự kiểm tra về việc thực hiện Quy chế dân chủ trong toàn ngành trình Lãnh đạo Viện báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương.
Hoạt động thanh tra đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng công tác quản lý cán bộ, chấp hành các Quy chế của ngành và pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh.
4. Công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng và tuyên truyền pháp luật
Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát địa phương đã tích cực nghiên cứu nhiều đề tài khoa học và các chuyên đề nghiệp vụ  liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Toàn ngành đã tích cực góp ý kiến về dự thảo BLTTDS. Bộ luật này đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá XI. Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn tham gia vào việc xây dựng Bộ luật dân sự (sửa đổi) và nhiều dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp luật khác.
Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Dự án quốc tế đã ký kết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức Hội thảo khoa học về BLTTHS năm 2003, BLTTDS năm 2004, về quá trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ từ 1945 đến nay, về hệ thống tranh tụng trong tố tụng hình sự của Nhật Bản, Australia và một số nước. Đã tổ chức 5 đoàn cán bộ của Viện kiểm sát đi để nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về thực hành quyền công tố ở một số nước; tiếp nhiều đoàn chuyên gia nước ngoài sang thăm và làm việc với Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo chương trình Dự án đã ký kết.
Theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện, Tổ biên tập Lịch sử ngành đang tích cực biên soạn cuốn Biên niên sử ngành Kiểm sát nhân dân, xúc tiến biên soạn Sơ thảo về lịch sử ngành Kiểm sát nhân dân từ khi thành lập đến nay.
Báo Bảo vệ pháp luật đã tăng số lượng phát hành lên 2 kỳ 1 tuần. Tạp chí kiểm sát và Báo bảo vệ pháp luật đã phát hành đều đặn các số Tạp chí, Bản tin, các số báo thường kỳ và các số chuyên đề theo đúng kế hoạch, đã phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật kịp thời đến đông đảo bạn đọc trong và ngoài ngành, nhất là các văn bản pháp luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành như BLTTHS và BLTTDS. Tạp chí Kiểm sát đã tổng hợp được nhiều vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật ở địa phương, góp phần thúc đẩy công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật của ngành có hiệu quả hơn; đã biên tập và phát hành 2 cuốn phụ trang về Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch hướng dẫn Nghị quyết trên; về một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Thông tư liên tịch của Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật. Chất lượng các bài viết trên các số Tạp chí, Bản tin Kiểm sát và Báo Bảo vệ pháp luật được nâng cao và bám sát yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành.
5.  Công tác hậu cần
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực hiện công khai việc phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2004 cho các đơn vị trong ngành. Toàn ngành đã triển khai thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI về trang phục và giấy chứng minh Kiểm sát viên đối với cán bộ, công chức trong ngành; đã và đang tích cực thực hiện việc đầu tư xây dựng trụ sở của Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nhiều đơn vị sử dụng ngân sách đã thực hiện quản lý chi tiêu ngân sách theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua kiểm tra xét duyệt quyết toán thấy còn một số đơn vị quản lý chưa chặt chẽ, chi tiêu chưa đúng quy định. Ngày 15/6/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-VKSTC-V11 về việc tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường công tác quản lý tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản nhằm chấn chỉnh công tác này trong toàn ngành.
KẾT LUẬN
Năm 2004, Viện kiểm sát các cấp đã đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới. Đạt được những kết quả đó chủ yếu là do Viện kiểm sát các cấp đã bám sát Chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị, các Nghị quyết khác của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ, Chỉ thị 07 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phối hợp với các cơ quan tư pháp quán triệt và phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ được giao. Năng lực, trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp được nâng lên. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành được tăng cường.
 Tuy nhiên, đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhất là với yêu cầu của cải cách tư pháp, công tác của ngành Kiểm sát còn những tồn tại, yếu kém như đã nêu ở từng phần trên.
 Những tồn tại, yếu kém đó có nhiều nguyên nhân. Về chủ quan, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, Kiểm sát viên chưa cao; năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều cán bộ, Kiểm sát viên còn bất cập, chưa đáp ứng được với yêu cầu hiện nay; việc quản lý, chỉ đạo điều hành, kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới chưa được chú trọng đúng mức; việc phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp với các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa kịp thời; công tác phối hợp, chỉ đạo giải quyết án có nơi còn yếu. Về khách quan, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan đến các hoạt động tư pháp chậm được rà soát để sửa đổi, bổ sung và ban hành mới; số lượng cán bộ ở nhiều nơi thiếu so với nhu cầu (đầu năm 2004 chưa được tăng biên chế); cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc và phục vụ yêu cầu công tác của nhiều Viện kiểm sát mặc dù đã được tăng cường nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở tổng kết công tác kiểm sát năm 2004 của ngành Kiểm sát, các đơn vị trong toàn ngành tiếp tục tập trung kiểm điểm nghiêm túc, từ đó đề ra biện pháp khắc phục những khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành tốt công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2005./.
 
VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Đã ký: Hà Mạnh Trí

















Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Việt Hùng, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: