CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

The Supreme People’s Procuracy of Viet Nam

Giải pháp thực hiện hiệu quả công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự

01/06/2018
Cỡ chữ:   Tương phản
Sau 02 năm thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (GĐT), tái thẩm (TT) tại VKSND hai cấp theo Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015, số vụ việc dân sự ban hành kháng nghị thấp hơn so với trước...

Sau 02 năm thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (GĐT), tái thẩm (TT) tại VKSND hai cấp theo Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015, số vụ việc dân sự ban hành kháng nghị thấp hơn so với trước. Nguyên nhân từ đâu và giải pháp nào để nâng cao chất lượng khâu công tác này?

Theo quy định tại Điều 331 và Điều 354 BLTTHS năm 2015, Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT, TT đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao.

Viện trưởng VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị GĐT, TT bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ.

Thực trạng công tác kháng nghị GĐT, TT trong kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự

Qua 02 năm thực hiện công tác kháng nghị GĐT, TT thuộc thẩm quyền của VKSND đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Hai cấp kiểm sát, bằng nhiều giải pháp đã giải quyết hầu hết số lượng đơn đề nghị kháng nghị GĐT, TT đảm bảo kịp thời hạn, kháng nghị theo thủ tục GĐT, TT đối với nhiều bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của pháp luật.

Các VKSND cấp cao, sau một thời gian đi vào hoạt động, số lượng đơn đề nghị kháng nghị GĐT, TT được giải quyết và số lượng kháng nghị GĐT, TT năm sau cao hơn năm trước. Tại VKSND tối cao, sau khi các Viện kiểm sát cấp cao đi vào hoạt động ổn định, số lượng đơn đề nghị kháng nghị GĐT, TT được giải quyết cũng gia tăng theo từng năm.

Tuy nhiên, sau 02 năm thực hiện thẩm quyền kháng nghị GĐT, TT tại VKSND hai cấp còn có một số tồn tại, hạn chế như: Số vụ việc ban hành kháng nghị thấp hơn so với trước khi thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015. Vậy, đâu là nguyên nhân?

Thứ  nhất, VKSND có thẩm quyền kháng nghị GĐT, TT gặp khó khăn trong việc yêu cầu rút hồ sơ. Quá trình giải quyết đơn, Viện kiểm sát có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản yêu cầu TA đang quản lý chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát xem xét, giải quyết, nhưng số lượng yêu cầu được Tòa án đáp ứng không cao. Một số trường hợp gần hết thời hạn kháng nghị mới nhận được hồ sơ do TA chuyển đến, nên không đủ thời gian xem xét, giải quyết, trong đó có những bản án, quyết định có vi phạm pháp luật, cần được xem xét kháng nghị.

Thứ hai, công tác phối hợp trong việc kháng nghị GĐT, TT giữa Vụ nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao với các VKSND cấp cao, giữa các VKSND cấp cao với một số tổ biệt phái chưa được chặt chẽ, hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết đơn cũng như công tác kháng nghị. Một số VKSND cấp tỉnh cử công chức biệt phái chưa có kinh nghiệm nghiên cứu hồ sơ kháng nghị GĐT, TT, dẫn đến việc nghiên cứu, đề xuất còn gặp nhiều lúng túng, chưa đúng quy trình.

Thứ ba, VKSND tối cao chưa quy định cụ thể thẩm quyền ban hành một số văn bản nghiệp vụ của Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ (khi Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ không phải là Kiểm sát viên VKSND tối cao), chưa có hướng dẫn trường hợp VKSND cấp tỉnh đã báo cáo thỉnh thị, cơ quan, tổ chức đã kiến nghị kháng nghị GĐT, TT không đồng ý với trả lời của VKSND cấp cao, thì báo cáo lên cơ quan nào? VKSND cấp cao hay VKSND tối cao.

Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa quy định giới hạn giải quyết đơn đề nghị kháng nghị GĐT, TT; nhiều trường hợp đã được giải quyết đúng pháp luật, nhưng đương sự không chấp nhận, vẫn tiếp tục đề nghị xem xét, gửi đơn đến nhiều cơ quan khác nhau gây nên tình trạng khiếu kiện kéo dài.

Một số giải pháp

Về nhận thức

Các cấp kiểm sát cần nhận thức đúng và đầy đủ yêu cầu của công tác kháng nghị GĐT, TT. Mỗi Kiểm sát viên (KSV), Kiểm tra viên (KTV) cần nâng cao nhận thức về công tác này. Muốn chuyển biến, thay đổi tình hình thì việc trước tiên là làm chuyển biến nhận thức của KSV, KTV về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của BLTTDS là vấn đề quan trọng.

Để tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành quyết định kháng nghị GĐT, TT có chất lượng, đúng pháp luật, mỗi KSV, KTV phải nắm vững quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT, TT của VKSND được quy định trong Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015, bên cạnh đó nắm vững và vận dụng pháp luật về nội dung như Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình… cũng vô cùng cần thiết.

Về công tác cán bộ

Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần quan tâm, tạo điều kiện, bố trí đủ số lượng, chất lượng KSV, KTV làm công tác thực hiện quyền kháng nghị GĐT, TT. Vụ tổ chức cán bộ phối hợp với Vụ nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao và các VKSND cấp cao rà soát lại chỉ tiêu biên chế, xây dựng cơ cấu cán bộ hợp lý cho từng đơn vị để có sự điều chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, tham mưu cho Lãnh đạo VKSND tối cao trong việc tuyển dụng, điều động công chức đến công tác tại các VKSND cấp cao, ưu tiên điều động KSV, KTV có kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

Về quản lý, chỉ đạo, điều hành

Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp có thẩm quyền thực hiện nghiêm Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND tối cao và TAND tối cao (TTLT số 06/2016), quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS, trong đó có hướng dẫn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát, Tòa án trong kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự; Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác kiểm sát các vụ, việc dân sự và Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về quy chế thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành KSND. Toàn ngành tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự để phát hiện vi phạm của TA từ cấp sơ thẩm, khắc phục ngay tại cấp phúc thẩm để hạn chế việc kháng nghị GĐT, TT.

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao cần quan tâm nhiều hơn đối với công tác quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra nghiệp vụ và phối hợp công tác với các VKSND cấp cao trong công tác kháng nghị GĐT, TT. Trả lời, hướng dẫn kịp thời các vụ án mà VKSND cấp cao xin đường lối giải quyết. Thường xuyên thông báo những vụ án, những đơn vị làm tốt, cũng như những vụ án, những đơn vị chưa làm tốt để cùng học tập, rút kinh nghiệm.

Nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Để làm tốt công tác kháng nghị GĐT, TT, yêu cầu KSV, KTV phải nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, trình tự, thủ tục giải quyết đơn, trình tự kháng nghị. Khi được phân công giải quyết đơn, hồ sơ vụ án, các KSV, KTV phải đề cao trách nhiệm cá nhân, làm rõ các vấn đề sau đây:

- Làm rõ và nắm chắc được nội dung vụ án

- Làm rõ việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

- Làm rõ các vấn đề về chứng cứ          

- Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phải chú ý các tình tiết để trả lời các câu hỏi như: Khi tham gia quan hệ pháp luật có tranh chấp thì các bên có quyền và nghĩa vụ gì? các quyền và nghĩa vụ đó có được pháp luật bảo vệ hay không? các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình như thế nào? có bên nào vi phạm không? việc vi phạm đó ảnh hưởng như thế nào đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm không… Trên cơ sở đó, KSV, KTV mới nhận định được đường lối giải quyết vụ án của TA có đúng không? những văn bản pháp luật mà TA áp dụng có phù hợp không?

- Khi nghiên cứu đơn đề nghị, kiến nghị kháng nghị GĐT, TT phải chú ý các vấn đề như: Đương sự khiếu nại những vần đề gì? kèm theo đơn khiếu nại là những tài liệu, chứng cứ gì? tài liệu, chứng cứ này đã có trong hồ sơ vụ án hay chưa… Từ đó, đối chiếu những vấn đề đương sự khiếu nại, tài liệu đương sự cung cấp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của bản án, quyết định.

Trường hợp có vi phạm thì cần báo cáo kịp thời người có thẩm quyền kháng nghị, phân tích, đánh giá làm rõ vi phạm của bản án, quyết định, đặc biệt là các vi phạm về luật nội dung. Mỗi loại vi phạm đều có đặc thù riêng, vì vậy, cần lưu ý để đánh giá chính xác mức độ vi phạm (có trích dẫn điều luật) của bản án, quyết định. Trên cơ sở đó, đề xuất kháng nghị GĐT, TT. Trước khi ban hành Quyết định kháng nghị cần phải kiểm tra kỹ cả về hình thức, nội dung và thẩm quyền.

Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn pháp luật

Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 nói chung và công tác thực hiện quyền kháng nghị GĐT, TT của VKSND nói riêng; về lâu dài, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTDS và các quy định pháp luật khác có liên quan nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện quyền kháng nghị GĐT, TT của VKSND. Trước mắt, cần quy định rõ thẩm quyền ban hành các văn bản nghiệp vụ trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục GĐT, TT giữa Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ (trong trường hợp Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ không phải là Kiểm sát viên VKSND tối cao) với Kiểm sát viên VKSND tối cao theo hướng Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ được ký “Thừa lệnh” Viện trưởng ban hành các văn bản nghiệp vụ như: Yêu cầu xác minh thu thập chứng cứ; yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ; yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án dân sự.

Cần hướng dẫn rõ trường hợp VKSND cấp tỉnh đã báo cáo thỉnh thị; cơ quan, tổ chức đã kiến nghị kháng nghị GĐT, TT không đồng ý với trả lời của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao mà tiếp tục có báo cáo đề nghị, kiến nghị kháng nghị GĐT, TT thì thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của VKSND tối cao (Vụ nghiệp vụ).

Công tác phối hợp trong việc chuyển hồ sơ vụ án

Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với TAND cùng cấp trong việc thực hiện TTLT số 06/2016, trong đó, tại Chương II đã quy định việc phối hợp thực hiện chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, gửi văn bản tố tụng. Trường hợp đã yêu cầu nhiều lần, nhưng vẫn không nhận được hồ sơ vụ án thì cần tập hợp kiến nghị với Chánh án TAND cùng cấp hoặc báo cáo về Vụ nghiệp vụ đề xuất Lãnh đạo Viện kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Các VKSND cấp cao có thể chủ động ký quy chế phối hợp với Tòa án nhân dân cấp cao trong việc chuyển hồ sơ vụ án để xem xét theo thủ tục GĐT, TT.

Trong trường hợp cần thiết, khi có yêu cầu của Viện trưởng VKSND tối cao, VKSND cấp cao phải chuyển ngay hồ sơ cho Vụ nghiệp vụ để báo cáo Lãnh đạo VKSND tối cao xem xét kháng nghị GĐT, TT theo thẩm quyền.

Tăng cường sơ kết, tổng kết, hội thảo

Để đánh giá những mặt đã làm được, những tồn tại, hạn chế, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hiện quyền kháng nghị GĐT, TT, cần tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng chuyên đề nghiệp vụ, đồng thời tổ chức hội thảo khoa học, tập huấn nghiệp vụ, nhất là đối với những đạo luật, văn bản mới ban hành; thường xuyên rút kinh nghiệm cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hiện quyền kháng nghị GĐT, TT.

(Trích bài viết: “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự) của tác giả Nguyễn Văn Trường, Phó Trưởng phòng 4, Vụ 9, VKSND tối cao. Tạp chí Kiểm sát số 3/2018).

Kiemsat.vn

Tìm kiếm